- Tâm hiếu của Thiền sư Tông Diễn

04/06/201312:00 SA(Xem: 3418)
- Tâm hiếu của Thiền sư Tông Diễn


 

Tâm hiếu của Thiền sư Tông Diễn

Như Hùng

(Tiếp theo)

Đường đạo hay đưòng đời không phải lúc nào cũng bình yên, kẻ khác mang đến thì ít mà do ta khuấy động thì nhiều. Dù tâm hay cảnh, nội giới hay ngoại giới, thì tự mình quán chiếu tìm phương vượt thoát. Không có điều gì tự nhiên đến mà không có nguyên nhân, tất cả đều do nhân quả nghiệp duyên. Ta tỉnh thức tu tập, bằng lòng đón nhận tất cả trong sự hoan hỷ tuyệt cùng, thì cảnh cùng tâm mới không gây đau khổ, ta mới được nhẹ nhàng an lạc.


 
Ai trong chúng ta không từng thọ ơn của muôn loài chúng sanh, từ thiên nhiên đến con người, từ chuyện lớn đến vật nhỏ, chén cơm ta ăn, cái áo ta mặc, công sức mồ hôi nước mắt của biết bao con người. Tiếng chim hót líu lo trên cành, hoa trong vườn nở rộ, đem đến cho ta hương vị sắc màu, những phút giây thả hồn lắng đọng, một chút hoan hỷ có dịp ghé lại nơi tâm hồn. Chiếc lá vàng rơi trong chơ vơ lạc lõng, cơn gió vô tình cuốn đi những tàn hoa rơi rụng, tiếng kêu não nề trong đêm trường cô tịch, nhắc nhở cho ta sự có mặt của vô thường lẫn khuất đâu đây, ta phải ra công gắng sức tìm phương vượt thoát. Dù lặng lẽ sớt chia hay âm thầm nhắc nhở, tất cả đều là ơn.


Ta lạy tạ ơn đờì, ơn người, ơn tất cả chúng sanh, cho và vì sự có mặt của ta trong cuộc đời nầy. Dù cuộc sống của ta khổ đau hay hạnh phúc, nụ cười hay nước mắt, ta vẫn phải tạ ơn đời sống vừa khổ vừa vui, vừa được vừa mất nầy. Lạy tạ những người đem niềm vui và nỗi khổ đến, để ta còn dịp trả hết nghiệp một lần cho trọn. Tạ ơn một lòng tạ ơn.


4, ÂN TAM BẢO


Trong bốn ân đức mà Thiền Sư hết lòng báo đáp, thì ân Tam Bảo là khó lòng đền đáp nhất, cho dù trưởng tử hay trưởng nữ của đức Như Lai, tất cả đều là con Phật, đều mang trong mình lý tưởng cao cả " Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh " .Nếu không làm đưọc điều đó, không ra sức gắng lòng tu tập, không phát khởi bi nguyện dấn thân phụng sự, không đem thân mạng nổ lực tu tập đi đến giải thoát, thì muôn kiếp vẫn không đáp trả được ơn nầy. Trong ý nghĩa " Phụng sự cho chúng sanh là cúng dường chư Phật ". Bằng vào cách đó, mỗi một cách đó, chỉ có cách đó, mới phần nào chúng ta trả ơn Tam Bảo.


" Sau Sư trụ trì ở chùa Hồng Phúc, thường tới lui giảng đạo cho vua chúa nghe. Ngày tháng trôi qua, thấy tuổi già sức yếu sắp đến ngày viên tịch, bèn gọi đệ tử là Thiền sư Tĩnh Giác hiệu Hạnh Nhất đến dạy: “Gió từ thổi mạnh cuốn sạch mây mù, vầng mặt trời trí tuệ sáng ngời, gió lành thổi mát trong triều ngoài nội, nhưng không hề trụ trước, vì không cũng hoàn không. Trước sau như một cho ngươi hiểu rõ ba điểm hiển mật, cho ngươi giữ lấy trung đạo, ra đời độ người nay cũng như xưa, trời Tây, cõi Đông đạo vốn như nhau.” Dặn dò xong Sư nói kệ:


 " Xuân đến hoa chớm nở
 Thu về lá vàng rơi
 Đầu cành sương lóng lánh
 Cánh hoa tuyết rạng ngời.
 Buổi sáng trời trong rồng bày vảy
 Ngày trưa mây sáng voi hiện hình
 Vằn cọp tuy thấy một
 Bầy phụng thể toàn đồng.
 Đạt-ma Tây sang truyền pháp gì?
 Cành lau qua biển nổi phau phau ".

 (Hoa khai xuân phương đáo
 Diệp lạc tiện tri thu
 Chi đầu sương oánh ngọc
 Ngạc thượng tuyết liên châu.
 Thanh thần vân tán sản long giáp
 Bạch nhật hà quang lỏa tượng khu
 Báo văn tuy kiến nhất
 Phụng chúng thể toàn câu.
 Đạt-ma Tây lai truyền hà pháp ?
 Lô hoa thiệp hải thủy phù phù.)


Truyền pháp xong, Sư bảo: “Báo thân của ta đến đây đã hết.” Nói rồi, Sư ngồi trên giường thiền yên lặng thị tịch. Bấy giờ là ngày 16 tháng 7 năm Tân Sửu nhằm niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ năm (1711) triều Lê Dụ Tông, Sư thọ 72 tuổi. Đệ tử làm lễ hỏa táng xong, thu xá-lợi xây tháp ở Đông Sơn để thờ ".


Bài thi kệ và những lời dạy bảo của ngài trước khi xả bỏ tấm thân tứ đại, nói lên vấn đề chung quyết của mỗi chúng ta. Ở đó sự rộng mở tuyệt vời của giác ngộ về nguyên lý vô thường sanh diệt, " không hề trụ trước " hiển lộ nên chân tính của bất sinh bất diệt, " không cũng hoàn không". " Nở " và " rơi ", sanh và diệt là một ý thức thường trực về vô thường, về thân phận mong manh của kiếp người, thoạt có rồi không, sớm nở tối tàn, biến động nổi trôi, từ đó nổ lực quán chiếu, tìm phương vượt thoát tử sinh. " Một " và " đồng ", đồng một thể vô phân nguyên vị, thể tánh thường hằng bất biến, sẵn có trong mỗi chúng ta. Giác ngộ là sự thể nhập, tỉnh thức, bùng vỡ, vượt qua, thẳng tiến trong sự hợp nhất của tri hành.


Ngài nằm xuống cách đây mấy thế kỷ, tấm lòng hiếu đạo cùng nguyện lực cao cả, và công hạnh sâu dày của ngài, vẫn mãi lớn dần theo nhịp thời gian, đượm ngát cả không gian, lưu lại trong lòng mỗi người. Lòng từ bi và tấm gương hiếu hạnh của ngài vẫn mãi là ngọn đuốc soi đường cho chúng ta đi, tỏ rọi bến mê tìm về bờ giác. Chúng ta nguyện hết lòng báo đáp, hết lòng trân trọng kính lễ ân đức sâu dày cao cả, bằng vào sự tu tập giải thoát của chính mình, để phụng sự chúng sanh. Có như thế mới không cô phụ, mới đền đáp thâm ân cho được muôn phần trọn vẹn.


Ngày Lễ Vu Lan Báo Hiếu không còn riêng của Đạo Phật mà trở thành chung cho mọi người Dân Việt, chúng ta duy trì và phát huy truyền thống đó, để làm rạng ngời cho chính ta và cũng là vẽ vang cho dân tộc. Để yêu thương lắng đọng trùng khắp, hương thơm hiếu hạnh lan tỏa muôn phương. Trong niềm hiếu kính vô biên, trong sự rạng ngời của tâm thức, tâm hiếu và hạnh hiếu đong đầy lên mãi, tâm Phật và hạnh Phật sáng tỏ trong lòng mọi người bất diệt.


Ta hết lòng đãnh lễ mười phương Tam Bảo gia hộ cho ta vững tiến trên con đường đạo. " Con về nương tựa Phật người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời nầy. Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết. Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức ". Nương tựa vào ba ngôi báu, phát nguyện tu tập, gắng lòng bền chí. " Dù cho thế giới không còn, lòng con cũng vẫn sắc son lời nguyền ".

Như Hùng

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn