- Những sắc thái đặc thù Phật giáo

04/06/201312:00 SA(Xem: 3913)
- Những sắc thái đặc thù Phật giáo

 

NHỮNG SẮC THÁI ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO

 Nguyễn Trần Ai


Bài II- CẢI CÁCH  

Chương I


BỐI CẢNH LỊCH SỬ


Tiết I. ĐỨC PHẬT TRONG “THỜI ĐẠI TRỤC”


 Khi Đức Phật đản sanh, một phần địa cầu đang cựa mình chuyển sang một kỷ nguyên mới, trong đó nhiều chí nhân như hẹn nhau cùng xuất hiện. Cuộc cải cách của Đức Phật lồng trong một cuộc cải cách rộng lớn thay đổi toàn bộ tư tưởng và cách sống loài người.


 Sự kiện lịch sử này được bác sĩ tâm thần kiêm triết gia người Đức Karl Theodor Jaspers (1883-1969) năm 1949 trong cuốn Vom Ursprung und Ziel der Geschichte  (Nguyên nhân và mục đích của Lịch sử), đặt cho cái tên là “Achsenzeit”, tiếng Anh là “Axial Age” hay “Axial Period” hay "Axis Time", tạm dịch là “Thời đại Trục”, để chỉ khoảng thời gian từ năm 800 đến 200 TK (trước Kitô) trong đó một số tư tưởng gia then chốt đã ảnh hưởng sâu xa đến các triết học và tôn giáo trong tương lai tại các vùng biệt lập không có liên lạc với nhau, mỗi vùng có những đặc tính phát triển riêng biệt từng vùng nhưng cùng có những đặc điểm tương hợp một cách kỳ lạ.


 Bốn vùng chính được kể ra: Cổ Hy Lạp, Trung Đông, Ấn Độ và Tàu.


 Tại Hy Lạp có Thales (c.624–c.546 TK), Xenophanes (c.570-c.478 TK), Heraclitus (c.530-c. 470 TK), Parmenides (c.515-c.450 TK). Các triết gia này ảnh hưởng lên các triết gia hậu bối: Socrates (c.469-c.399 TK), Plato (348-347 TK), Aristotle (384-322 TK) (TK = trước Kitô; c = circa = vào khoảng).


 Tại Trung Đông có các tiên tri Elijah (tk IX TK), Isaiah (tk VIII TK), Jeremiah (c.650-c.570 TK) và Deutero-Isaiah (550–539 TK?).


 Tại Tàu, thời kỳ này trùng hợp với thời Bách Gia Chư Tử (zhū zǐ bǎi jiā) chứng kiến sự mở rộng to lớn về văn hóa và trí thức kéo dài từ 770 đến 222 TK, cũng là thời Xuân Thu, Chiến Quốc, thời đại hoàng kim của tư tưởng Tàu. Thời "bách gia tranh minh" (trăm nhà đua tranh) này chứng kiến sự nảy nở của nhiều trường phái tư tưởng khác nhau rồi truyền cho các thế hệ kế tiếp: 1/ Nho Gia: Khổng Tử (551–479 TK), Mạnh Tử (385–303 TK), Tuân Tử (313-238 TK); 2/ Mặc Gia: Mặc Tử (sau Khổng Tử, trước Mạnh Tử); 3/ Đạo Gia: Dương Châu, Lão Tử, Trang Tử (365-290 TK); 4/ Danh Gia: Huệ Thi (370-310 TK); 5/ Âm Dương Gia: Trâu Viễn; 6/ Pháp Gia: Hàn Phi Tử.


 Tại Ấn Độ có Đức Phật (563-483 TK) và Mahavira (Đại Hùng: 599-527 TK) sáng lập Kỳ Na giáo (Jainism)


 Nhiều nơi trên thế giới những tổ chức được thành lập để hàng năm hội họp thảo luận những nghiên cứu về tư tưởng của Jaspars như Karl Jaspers Society of North America thành lập ngày 28.12.1980, Karl Jaspers Stiftung of Basel, Jaspers Society of Japan, Österreichische Karl-Jaspers-Gesellschaf và Jaspers Society of Poland.


 Tiến sĩ Henry Bamford Parkes (1904-1972), giáo sư sử học của Đại Học New York, trình bày tầm quan trọng của “Thời kỳ Trục”:

 Nếu kéo dài Thời kỳ Trục ra để bao gồm cả sự phát triển của tư tưởng Hy Lạp trong tk V và IV TK, và việc rao giảng các đạo lý phúc âm bởi sáng tổ Kitô giáo vào tk I, thì có thể khẳng định rằng thực sự không có tư tưởng mới nào đã được thêm vào từ thời đó ("Gods and Men”. Knopf, 1959). 


 John Zerzan triển khai ý niệm này:

 Karl Jaspers xác định điểm quặt cho việc tái-tượng trưng hóa của con người, “Thời kỳ Trục”, vào giữa năm 800 đến 200 TK trong ba vương quốc chính của văn minh: Trung Đông, Ấn Độ và Tàu. Jaspers tách riêng các nhà tiên tri và nhân vật tâm linh của tk VI như Zoroaster ở Ba Tư, Deutero-Isaiah trong số người Hy Bá Lai (Hebrews), Heraclitus và Pythagoras ở Hy Lạp, Phật ở Ấn Độ và Khổng Tử ở Tàu. Những cá nhân này đồng thời nhưng biệt lập trong việc đóng góp vĩnh viễn vào ý thức hậu-Tân Thạch Khí thời đại và việc phát sinh những tôn giáo thế giới. Trong những phát triển song hành một cách kỳ lạ, một biến chuyển được rèn luyện nhờ đó văn minh thiết lập vững chắc hơn trong tâm khảm con người trên toàn cầu. Phát triển nội bộ của mỗi một trong những xã hội ấy phá vỡ sự tĩnh lặng của các nền văn hóa Thời Kỳ Đồ Đồng trước đó. Tại nhiều vùng, rõ ràng có những đòi hỏi cải cách chật vật và các yêu cầu mới đối với các mô hình nguyên thủy. Thí dụ, dân số thành thị tăng gần gấp đôi từ năm 600 đến 450 TK. Cần có và thực hiện một biến hóa phổ quát cung cấp “các căn bản tâm linh nhân loại” vẫn còn tồn tại với chúng ta cho đến ngày nay. Cá nhân sớm bị văn minh của bước tiến tăng tốc Thời Đại Đồ Sắt làm cho teo lại... Trong khi ở các nền văn minh Lưỡng Hà cổ đại, các thần linh được đồng hóa gần hơn với các lực thiên nhiên khác nhau, bây giờ xã hội nói chung tăng trưởng dị biệt hóa nhiều hơn và sự phân ly sâu hơn giữa thiên nhiên và siêu nhiên...Trước Thời Kỳ Trục, các vật được mô tả trong ngôn ngữ học theo các hoạt động của chúng. Bắt đầu từ Thời Kỳ Trục, các phẩm chất tĩnh của chúng được nhấn mạnh,gạt ra ngoài những quá trình hữu cơ... Theo Henry Bamford Parkes, các tín ngưỡng mới xác định “một nhân sinh quan nhân bản thay vì sắc tộc”. Toàn thể di sản của các thánh địa, đa thần giáo sắc tộc và tôn sùng địa cầu đều vỡ hết, các lễ thức và sinh tế của nó bỗng chốc thành cổ hủ. Đồng nghĩa với sự vươn lên của các nền văn minh “cao hơn” và các tôn giáo thế giới, một ý thức về hệ thống xuất hiện, và nhu cầu san định trở nên chủ yếu. Theo Spengler, "toàn thể thế giới một hệ thống năng động, chính xác, sắp xếp theo toán học, có khả năng thể nghiệm đến tận các nguyên nhân thứ nhất của nó và được ấn định theo số học để con người có thể chi phối được nó”... Điều này đã và đang còn liên quan đến cái mà Mircea Eliade gọi là “vũ trụ hóa” (cosmicizing) việc chuyển từ bình diện tình trạng, có điều kiện sang “cách sống vô điều kiện” (unconditioned mode of being). Một hình ảnh Phật giáo trình bày “vượt qua nóc nhà”, nghĩa là, siêu việt cảnh giới phàm tục để vào một thực thể xuyên-nhân (trans-human reality)... Nguồn gốc và vai trò của Phật giáo trong việc bành trướng xã hội Thời Kỳ Trục có thể dễ dàng truy nguyên. Các thánh thư Pali đề cập đến các thầy Phật giáo thuở ban đầu như là cố vấn cho các nhà cầm quyền ở các quốc gia Ấn Độ, một chứng cứ cho sự hữu ích của Phật giáo trong trật tự thành thị mới vào thời biến chuyển lớn. Nhiều bình luận gia đã cho là việc Phật giáo tái diễn đạt những phạm trù Ấn Độ giáo như là một ý thức hệ phát sinh để phục vụ các nhu cầu của một cấu trúc đang nổi lên bị thách đố. Các người ủng hộ lúc ban đầu đa số rõ ràng là những thành phần ưu tú thành thị và nông thôn. Đối với Phật cũng như các tiên tri khác Thời Kỳ Trục nói chung, cá nhân được ưu tiên trên xã hội. Cá nhân là một quan sát viên vô tư, tìm kiếm thoát ly khỏi thế giới, chủ yếu chấp nhận một khu vực rất nhỏ hẹp như là địa bàn của chú ý và trách nhiệm... Phật giáo thành một tôn giáo thế giới khác... Khoảng năm 250 TK Phật giáo thành tôn giáo chính thức của Ấn Độ theo sắc lệnh của A Dục, vị vua cuối cùng của triều đại Maurya (“The Iron Grip of Civilization: The Axial Age”).


 John Zerzan (sinh 1943) là triết gia Mỹ chủ trương vô chính phủ và quay về đời sống thiên nhiên, chỉ trích xã hội nông nghiệp hóa.


 Giáo sư Karen Armstrong, một nữ tu Công giáo hoàn tục, lồng công cuộc cải cách của Đức Phật trong Thời kỳ Trục:

 Cồ Đàm thường được miêu tả theo một biểu tượng anh hùng, gợi ý cường lực, nghị lực và quyền lực. Ngài được so sánh với sư tử, hổ, voi dữ… Người ta coi những vị khổ tu như những nhà tiên phong: họ thám hiểm những lãnh vực tâm linh để cứu vớt chúng sinh đau khổ. Kết quả của sự bất an lan tràn là nhiều người mong mỏi một Đức Phật, một người “giác ngộ” đã “thức tỉnh”về tiềm năng toàn vẹn của nhân loại và sẽ giúp người khác tìm bình an trong một thế giới đột nhiên thành xa lạ và quạnh hiu (10).


 Tại sao dân Ấn cảm thấy cái khó chịu này ở đời? Phiền muộn này không chỉ giới hạn trong bán lục địa mà làm khổ nhiều vùng xa xôi của thế giới văn minh. Một số người cứ tăng lên mãi đã cảm thấy rằng các hành trì tâm linh của tổ tiên họ không còn hữu dụng đối với họ nữa, và một đoàn rầm rộ những thiên tài tiên tri và triết gia cố gắng hết mình để tìm một giải pháp. Có những sử gia gọi thời kỳ này (kéo dài từ khoảng năm 800 đến 200 TK) là “Thời Đại Trục”(Axial Age) vì nó đã rõ là cái trục của nhân loại. Phong tục uốn nắn từ dạo ấy còn tiếp tục nuôi dưỡng nam nữ cho đến ngày nay. Cồ Đàm sẽ thành một trong những ngôi sao sáng quan trọng và tiêu biểu nhất của Thời Đại Trục, cùng với các đại ngôn sứ Hy Bá Lai của tk VIII, VII và VI [TK = trước Kitô]; Khổng Tử và Lão Tử đã cải cách các truyền thống tôn giáo Tàu vào tk VI và V; chí nhân Ba Tư Zoroaster của tk VI; và Socrates và Plato (khoảng 427-327) đã đốc thúc người Hy Lạp chất vấn ngay cả những chân lý đã tưởng như hiển nhiên. Những người tham gia vào cuộc biến cải vĩ đại này tin chắc rằng họ đang trên bờ một kỷ nguyên mới và không còn gì có thể vẫn như cũ.

 

 Thời Đại Trục đánh dấu khởi thủy của nhân loại như chúng ta biết ngày nay. Trong thời kỳ này, nam và nữ trở nên ý thức được hiện sinh của họ, bản chất và các giới hạn của họ một cách chưa từng có. Kinh nghiệm của họ về sự bất lực hoàn toàn trong một thế giới độc ác bắt họ tìm kiếm những mục tiêu cao hơn và một thực tại tuyệt đối trong những đáy sâu thẳm của họ. Các đại chí nhân thời đó dạy chúng sinh cách đối phó với khốn khổ của cuộc đời, vượt lên khỏi tính nhu nhược của họ, và sống an bình giữa thế giới nhơ nhuốc này. Các hệ thống tôn giáo mới nổi lên trong thời kỳ này – Đạo giáo và Khổng giáo ở Tàu, Phật giáo và Ấn giáo ở Ấn, độc thần giáo ở Ba Tư và Trung Đông, và duy lý chủ nghĩa Hy Lạp ở Âu Châu – tất cả chia sẻ những đặc điểm căn bản dưới những dị biệt hiển nhiên của chúng. Chỉ bằng cách tham gia vào việc biến cải đại thể này mà các dân tộc khác nhau trên thế giới có thể tiến bộ và gia nhập vào bước tiến lên của lịch sử. Thế nhưng dù cực kỳ quan trọng, Thời Đại Trục vẫn còn bí mật. Chúng ta không biết nguyên nhân của nó, cũng không biết tại sao nó chỉ bắt rễ ở ba vùng cốt lõi: Tàu; Ấn Độ và Ba Tư; và đông phần Địa Trung Hải. Tại sao chỉ có người Tàu, người Ba Tư, người Ấn Độ, người Do Thái và người Hy Lạp kinh nghiệm những chân trời mới này và nhập cuộc tầm cầu giác ngộ và giải cứu? Những người Babylon và Ai Cập, cũng đã từng tạo dựng những nền văn minh lớn, nhưng lại không phát huy một ý thức hệ Trục vào thời điểm này và chỉ về sau mới tham dự vào tân trào: trong Hồi giáo và Ki tô giáo, cả hai là những tái khẳng định thôi lực của Trục nguyên thủy. Nhưng tại các nước Trục, một ít người cảm thấy những khả năng mới và rứt ra khỏi các truyền thống cũ. Họ tìm biến cải trong những cõi sâu nhất của con người họ, kiếm hướng nội lớn hơn trong các sinh hoạt tâm linh của họ, và cố trở thành một với một thực tại siêu việt các điều kiện và phạm trù thế gian bình thường. Sau kỷ nguyên trục này, người ta cảm thấy rằng chỉ có cách vươn ra khỏi các giới hạn con người mới trở thành chính họ đầy đủ hơn (10-2).

 

Có những sử gia xem các cuộc xâm lăng của các du mục kỵ mã Ấn-Âu như là một yếu tố chung cho các vùng này. Những dân bộ lạc A lỵ a này từ Trung Á đến Địa Trung Hải vào cuối thiên niên kỷ III, định cư ở Ấn Độ và Ba Tư vào khoảng năm 1200 TK và ở Tàu vào cuối thiên niên kỷ II. Họ đem theo một ý niệm về những chân trời bao la và những khả năng vô giới hạn, và, như là một giống người cai quản, họ phát triển một tri thức chiến sử một cách thảm khốc. Họ thay thế các cộng đồng ổn định và sơ khai hơn, nhưng chỉ sau những thời kỳ tranh chấp kịch liệt và khốn cùng, có thể đã gây ra sự khó chịu của Thời Đại Trục (14).

 

Hơn nữa, thứ văn hóa do người A lỵ a phát triển ở Ấn Độ chẳng hạn, không liên quan gì đến tính sáng tạo của Thời Đại Trục. Vào khoảng năm 1000 TK, các dân bộ lạc A lỵ a định cư và thiết lập những cộng đồng nông nghiệp ở đa số vùng của bán lục địa. Họ chế ngự xã hội Ấn Độ đến mức ngày nay chúng ta gần như không biết gì về nền văn minh bản xứ tiền-A lỵ a tại thung lũng Sông Indus. Mặc dù năng động từ khởi thủy, Ấn Độ A lỵ a đình đốn và thủ cựu như đa số các nền văn hóa tiền-Trục… Tinh linh tính A lỵ a tiêu biểu cho các tôn giáo cổ đại, tiền-Trục, dựa trên việc chấp nhận nguyên trạng (satus quo) (15).

 

Các tôn giáo mới tìm kiếm chiều sâu nội tại hơn là nắm được thần thuật. Các chí nhân không còn bằng lòng với sự theo đúng cách thức bề ngoài nữa mà ý thức được sự hướng nội tâm trí sâu đi trước hành động. Quan trọng nhất là khát vọng đem các lực vô thức và các chân lý, mới chỉ thoáng biết, ra ánh sáng dương quang (18). 

 

Sau hết, thay vì dấu một chân lý bí mật cho riêng mình như các bà la môn đã làm, các chí nhân Trục tìm cách quảng bá ra ngoài (19).

 

Việc biến cải của Trục đang tiếp diễn ở Ấn Độ khi ngài [Đức Phật] bỏ nhà tại Ca Tì La Vệ ra đi. Các học giả và sử gia ghi nhận rằng tất cả những ý thức hệ canh tân đều được tạo ra trong việc hình thành các thị trấn, là nơi đã đạt được một trọng tâm mới vào tk VI TK. Quyền hành chuyển từ sự liên kết giữa Vua và Đền Miếu sang các lái buôn là những người đã khai triển một thứ kinh tế khác… Kinh tế thị trường cũng soi mòn nguyên trạng… Một giai cấp thành thị mới đang thành hình, mãnh liệt, xô đẩy, đầy tham vọng và cương quyết tự tay quyết định vận mệnh… Đồng bằng quanh Hằng Hà ở Bắc Ấn, cũng như các vùng Trục khác, đang trải qua biến đổi kinh tế này trong thời Đức Phật. Vào tk VI, xã hội chủ yếu là nông thôn, do bọn xâm lăng A lỵ a thành lập từ lâu, đang biến chuyển bởi kỹ thuật mới của thời kỳ đồ sắt, đã cho các nông gia khả năng phá rừng rậm để mở mang canh tác đất mới. Các người định cư ào vào vùng này khiến nó thành đông đúc và sản xuất cao. Các du khách mô tả trái cây, gạo thóc, ngũ cốc, vừng, kê, lúa mì, các thứ hạt, lúa mạch tràn trề, dân địa phương dùng không hết đem bán. Đồng bằng Hằng Hà thành trung tâm văn minh Ấn; chúng ta ít nghe nói về các vùng khác của bán lục địa vào thời Đức Phật. Sáu đại đô thị thành những trung tâm mãi dịch và kỹ nghệ: Savatthi (Xá Vệ), Saketa, Kosambi (Kiều Thường Di), Varanasi (Benares, Banaras hay Kashi) , Rajagaha (Vương Xá) và Champa được nối liền bằng những con đường buôn bán mới… Lái buôn từ thập phương tứ xứ Ấn Độ và từ mọi tập cấp trà trộn tại khu chợ, và có những cuộc tranh luận sôi nổi về những ý niệm triết học mới ở các phố, tòa thị chính và các công viên lộng lẫy tại các ngoại ô. Các đô thị bị thống trị bởi những người mới, thương nhân, doanh nhân và các chủ ngân hàng, những người không còn dễ gì thích hợp với hệ thống tập cấp cổ nữa và bắt đầu thách thức các bà la môn và sát đế lị. Điều này gây xáo trộn nhưng cũng làm tăng cường lực. Người thành thị cảm thấy ở trên lưỡi dao sắc bén của biến dịch (“Buddha”, 20-1).

 

Như thế, theo Karen Armstrong, có một trận cuồng phong, cách nay 2500 năm, thổi qua một vùng rộng lớn ít nhất là một nửa địa cầu, từ duyên hải miền nam Địa Trung Hải, qua Trung Á, Ấn Độ, Tàu, đến tận Thái Bình Dương, quét sạch những tàn tích cổ hủ của những nền văn minh đã thành lỗi thời để thiết lập một trật tự mới, bỏ lại Âu Châu vẫn sống trong lạc hậu của thời kỳ Đồ Đá rồi trải qua một thời Trung Cổ (tk V-XV) bi đát. Điều đáng chú ý là trong tất cả các hệ thống tôn giáo và triết học mới này duy chỉ có Phật giáo là trở thành một tôn giáo toàn cầu, tồn tại cho đến ngày nay, ngày càng phát triển và bành trướng.


 Còn tiếp

 

Nguyễn Trần Ai


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn