NHỮNG SẮC THÁI ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO

09/06/201012:00 SA(Xem: 10829)
NHỮNG SẮC THÁI ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO


Nguyễn Trần Ai


(tiếp theo)
 

B. CÁC THÁNH THƯ CỦA TRƯỜNG PHÁI ĐẠI THỪA
Đại Thừa không khi nào gom các Thánh Thư lại vào một hệ thống đầy đủ như Giáo Điển của Thượng Tọa Bộ. Các Thánh Thư này phải được tìm kiếm trong ít nhất 4 ngôn ngữ, Phạn ngữ, Tạng Ngữ, tiếng Tàu và tiếng Nhật, và nhiều Sutra (khế kinh) và Sastra (luận) danh tiếng chỉ còn tồn tại trong bản dịch từ ngôn ngữ chúng được soạn thưở ban đầu… 
Những văn liệu đầy đủ nhất của Giáo Điển Đại Thừa, mà ngày nay ta có, được ghi lại trong các bộ Tam Tạng Tàu và Tây Tạng… Vài bản tổng kê quan trọng tồn tại cùng với các phân tích chi tiết các bản tổng kê ấy. Bản có giá trị nhất là của Beal, Nanjio và Taisho cho các Thánh Thư Tàu, và của Csoma de Körös, Sakurabe và Đại Học Hoàng Gia Tohoku cho Thánh Thư Tây Tạng.
Các Giáo Điển Tàu và Tây Tạng gồm cả các tác phẩm Đại Thừa và Tiểu Thừa. Đa số văn phẩm Tiểu Thừa thuộc về trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ nhưng cũng có một ít thuộc về Thượng Tọa Bộ và các trường phái khác (237-8)...
Trong A Tì Đạt Ma Tạng [Luận Tạng] của Giáo Điển Tàu cũng chia làm hai nhóm. Các văn phẩm Tiểu Thừa phần lớn gồm các bản dịch ra tiếng Tàu của các sách A Tì Đạt Ma của Nhất Thiết Hữu Bộ, nhưng có một vài dị biệt giữa chúng và các sách tương đương trong A Tì Đạt Ma Thượng Tọa Bộ. Mặt khác, phần Đại Thừa của A Tì Đạt Ma, trong cấu trúc, khác xa với phần của Nhất Thiết Hữu Bộ hay của Thượng Tọa Bộ, và gồm có các bình luận và tái bình luận về các khế kinh Đại Thừa chính...
Trong một phần thứ tư của Tam Tạng Tàu là các tác phẩm thuộc về các tông phái Phật giáo riêng biệt. Trong phần này có thí dụ như Huệ Năng Kinh [Lục Tổ Huệ Năng Pháp Bảo Đàn Kinh], Hoàng Bá Truyền Tâm Pháp Yếu [Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu] và nhiều tác phẩm khác do các văn gia Thiền Tông sản xuất, cùng với nhiều bản tổng kê khác nhau và các tác phẩm tham chiếu có tầm quan trọng hạn chế hơn (239)…
Giáo Điển Tây Tạng gồm Kanjur (Cam Châu Nhĩ) trong 108 tập, và Tanjur (Đan Châu Nhĩ), một bình luận vĩ đại trong 225 tập, mà Kenneth Saunders mô tả như là “một thư viện bách khoa của kiến thức cổ Ấn Độ về siêu hình học, luận lý, các nghệ thuật, khoa luyện kim, vv.” Nội dung của nó chưa được khảo sát đầy đủ nhưng nhà thám hiểm Hung Gia Lợi nổi tiếng, Csoma de Körös, đã dịch một bản phân tích sơ lược của Kanjur. Nó căn cứ trên Tam Tạng Ấn Độ và cả trên Tam Tạng Tàu về sau, nhưng thêm nhiều phần Tantra (Đát Đạt La). Các phần dịch từ Phạn ngữ rất có giá trị vì các nguyên tác trong nhiều trường hợp đã bị thất lạc, và có thể từ những bản dịch chính xác ấy phục hồi được nguyên tác.
Tuy nhiên, theo truyền thống mật giáo, còn có rất nhiều Thánh Thư Tây Tạng ngoài các bộ sưu tập tài liệu vĩ đại ấy. Thí dụ các tác giả của Các bức thư Mahatma gửi A. P. Sinnet viết từ Tây Tạng, nhắc đi nhắc lại đến cuốn Kiu-ti Thư. Theo H.P. Blavatsky được huấn luyện ở Tây Tạng, có thể tìm được 35 tập của tác phẩm ấy ở bất cứ tu viện Gelupta (Cách Lỗ Phái = Hoàng Mạo Phái) nào, và còn 14 tập bình luận nữa chứa đựng một toát yếu tuệ tính huyền học của các A La Hán các đời (Buddhism, an Introduction and Guide, 202).
Giáo sư A. L. Basham cho biết một số nguyên bản còn được bảo tồn tại Nepal:
Các thủ bản minh họa mỹ thuật của thánh thư Đại Thừa và Đát Đạt La (Tantra) được sản xuất tại đông phần Ấn Độ, một số tìm đường đến Nepal, tại đó còn tồn tại cho đến ngày nay (Tantricism and the Decline of Buddhism in India trong The Buddhist Tradition in India, China and Japan, 115-7).
Tại Cao Ly, từ năm 1236 đến 1251, trên 80,000 đột bản (bản gỗ khắc chữ lồi lên) được khắc để in Tam Tạng Cao Ly và được lưu trữ trong hai tàng viện tại chùa Haeinsa.
Tiến sĩ Kõgen Mizuno, giáo sư Phật Học của đại học đường Komazawa trình bầy lịch sử Tam Tạng tại Nhật:
Khi trở về Nhật, nhà hành hương Chõnen cũng đem theo một bộ Tam Tạng đầy đủ trên 5,000 quyển, tất cả in bởi các ấn công đời Tống. Tuy rằng cho đến thời ấy các tác phẩm như thế đều được chép tay, trong 12 năm từ 972 đến 983 toàn bộ được in ra.Việc này xẩy ra 5 thế kỷ trước khi máy in Gutenberg được phát minh.
Chõnen có được bộ có giá trị từ bộ sưu tầm hoàng gia năm sau khi nó hoàn tất – nghĩa là năm 984 – và đem về Nhật năm 987, được tàng trữ trong kinh viện chùa Hõjõ-ji, kiến thiết ở đông bộ Đông Kinh bởi quan nhiếp chánh quyền thế Fujiwara no Michinaga (966-1027) nhưng bị hỏa hoạn năm 1058 tiêu hủy (The Beginnings of Buddhism, 145). 
Giáo sư Junjiro Takakusu cho những thống kê về Tam Tạng tại Nhật:
Chính ở tại Nhật Bản mà toàn bộ văn học của Phật giáo, tức Tam Tạng kinh điển (Tripitaka) được tồn trữ và được khảo cứu đến.
Văn học Đại Tạng, cốt yếu là bản Hán dịch, đã được đưa vào Nhật Bản, từ Trung Hoa, vào các thời đại Đường (618-907) và Tống (960-1279). Bấy giờ gồm có 5,048 quyển, tất cả đều được tồn trữ tại Nhật Bản, trong khi một số đã bị thất lạc ở Trung Hoa. Tại Nhật, Văn học Đại Tạng được ấn hành kể đã 4 lần, mỗi lần ấn hành đều có bổ sung nhiều quyển mới. Mới đây, phận sự của tôi là tu bổ cho kỳ ấn hành lần mới nhất này, gồm các bản của Trung Hoa và Triều Tiên cũng như những bản vừa được tìm thấy tại Trung Á và Nhật Bản; một công trình kể cả 13 năm trường – gồm 13,520 quyển, chia làm 100 tập mỗi tập 1,000 trang (The Essentials of Buddhist Philosophy, 2, Việt dịch của Tuệ Sỹ, Các Tông Phái của Đạo Phật, 19).
Giáo sư Kōgen Mizuno, phó viện trưởng đại học Komazawa, cho một chi tiết lý thú liên quan đến giáo điển Nhật:
Khi trở về Nhật, nhà hành hương Chōnen cũng đem theo toàn bộ Tam Tạng trong hơn 5000 quyển, đều được ấn loát bởi các nhà in đời Tống. Tuy rằng cho đến thời ấy những tác phẩm ấy đều chép tay, trong 12 năm từ 972 đến 983, toàn bộ đã được in ra. Việc này đã xẩy ra gần 5 thế kỷ trước khi Gutenberg phát minh ra máy in.
Chōnen được bộ tam tạng từ bộ sưu tầm của hòang triều Tàu năm sau khi nó được hoàn tất – nghĩa là năm 984 – và đem về Nhật năm 987. Nó được tàng trữ tại tàng kinh các chùa Hōjō-ji được xây dựng tại đông phần Kyoto bởi quan nhiếp chính quyền thế Fujiwara no Michinnaga (966-1027), nhưng bị hủy họai trong hỏa hoạn năm 1058 (The Beginning of Buddhism, 145).
Andrew Skilton giải thích từ ngữ “Tạng”:
Giáo điển Phật giáo đại trào được cả truyền thống Đại Thừa cũng như phi-Đại Thừa chấp nhận gồm có, như chúng ta biết, ba phân bộ chính. Mỗi phân bộ được gọi là pitaka, thường được hiểu là `giỏ’ và do đó `sưu tập’. Tuy nhiên, cũng có thể từ ngữ dẫn xuất từ chữ để chỉ cho `cha’, pitr, và nguyên thủy nghĩa là `cái của Cha’, theo nghĩa cái được Cha, nghĩa là Đức Phật, truyền lại. Điều này song hành với tỷ dụ theo đó chư tăng tự xưng là sakyaputra, con nhà Sakya (Thích Ca), nghĩa là Đức Phật, người thuộc bộ lạc Thích Ca. Dù căn nguyên thế nào chăng nữa, toàn bộ giáo điển được gọi là Tripitaka (Tam Tạng), sưu tập bộ ba. Ba phân bộ này được gọi là: Vinaya Pitaka (Luật Tạng), phần giáo điển liên quan đến việc điều hành sinh hoạt của các tăng, ni Phật giáo; Sutra Pitaka (Kinh Tạng), bộ sưu tập các sutras, nghĩa là các bài thuyết pháp của Đức Phật; và thứ ba đến Abhidhamma Pitaka (A Tỳ Đạt Ma Tạng = Luận Tạng), liên quan đến việc giải thích có phương pháp và tuần tự các giáo lý và các phân tích, nghĩa là các giáo lý và phân tích tìm thấy trong Sutra Pitaka. Dường như chính từ ngữ pitaka mới được dùng trong tk II TK.
Tuy theo truyền thuyết các Pitaka này được tạo ra trong Kết Tập lần thứ nhất từ các lời Upali và Ananda đọc ra, mỗi vị lưu trữ trong ký ức toàn bộ các quy tắc Vinaya và thuyết pháp nay cấu thành hai Pitaka đầu tiên, câu chuyện này có vẻ rất khó chính xác (73)…
Trước hết, vài đoạn trong các Pitaka rõ ràng có niên đại vào thời kỳ nào đó sau cái chết của Đức Phật. Trong vài trường hợp, ta có thể nói thế vì chúng thuật lại những biến cố xẩy ra sau Tập Kết ấy, trong các trường hợp khác, vì chúng chứa đựng những giáo điều hay những hình thức hóa độc đáo các giáo điều chỉ phát triển sau thời Đức

Phật. Toàn bộ Abhidharma Pitaka là một thí dụ điển hình cho trường hợp sau, và được xác nhận như thế bằng sự kiện là các tham chiếu sớm nhất về giáo điển như là một toàn bộ chỉ nói đến Dharma-Vikaya mà thôi…
Dường như các trường phái có giáo điển riêng, các hiệu chính riêng về Buddhavacana, `Phật ngôn’. Có trường phái có nhiều hơn là ba Pitaka. Mahasanghika (Đại Chúng Bộ) dường như có một Dharani Pitaka và một Ksudraka Pitaka ngoài ba tạng nói trên… Các bộ sưu tập các bài thuyết pháp không có cùng một ý nghĩa hiệp thành như các Vinaya, và trong khi hiển nhiên là chúng lấy ra từ cùng một kho truyền thống và ký ức về Đức Phật, mỗi bộ sưu tập có lẽ phản ảnh các quan tâm và hành trì riêng biệt của cộng đồng đã lưu trữ nó. Chỉ có một toàn bộ đầy đủ Vinaya, Sutra và Abhidharma Pitaka còn tồn tại, bằng ngôn ngữ Pali, do trường phái Theravada [Phạn ngữ: Sthaviravada = Thượng Tọa Bộ] bảo lưu. Do đó nó được coi như tường thuật hữu quyền duy nhất của Buddhavacara tại Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cao Miên, quê hương của trường phái Theravada.
Liên kết với các Pitaka Vinaya và Sutra có một bộ song hành văn học binh luận, giải thích chi tiết các sutra trong từng phần một. Cũng thế, có thể có những truyền thống bình luận riêng biệt cho mỗi trường phái, nhưng chỉ cái gì liên kết với Theravada là còn tồn tại trong Ấn ngữ. Hầu hết được cho là dẫn xuất từ các nguyên bản Ấn Độ, được Buddhaghosa (Phật Đà Cồ Sa, dịch nghĩa là Phật Âm) tóm lược và dịch ra tiếng Pali vào tk IV hay V. Vài bình luận Pali được Dhammapala (Hộ Pháp) viết vào tk V hay VI (A Concise History of Buddhism, 74). 
Trên đây, giáo sư Andrew Skilton khẳng định, “Có trường phái có nhiều hơn là ba Pitaka” không phải là vô căn cứ vì Đại Tạng gồm tất cả các kinh sách và luận giải Phật giáo trong và ngoài Tam Tạng. Đại tạng đầy đủ nhất của Phật giáo Bắc truyền là Đại Tạng Tàu và Cam Châu Nhĩ, Đan Châu Nhĩ Tây Tạng.
Danh mục cổ nhất đại tạng lập ra năm 518 ghi lại 2113 tác phẩm, năm 972 được in lại thành Kanjur (hay Kangyur = Cam Châu Nhĩ) và Tanjur (hay Tengyur = Đan Châu Nhĩ, gọi chung là Đại Tạng Tây Tạng. Cam Châu Nhĩ được ấn hành tại Bắc Kinh năm 1410, gồm 92 bộ với 1055 bài, chia làm 6 phần:
(i) Mật Bộ (Tantra);
(ii) Bát Nhã Ba La Mật Bộ (Prajnaparamita);
(iii) Bảo Tích Bộ (Ratnakuta);
(iv) Hoa Nghiêm Bộ (Buddhavatamsaka);
(v) Kinh Bộ (Sutra) gồm giáo pháp của cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa;
(vi) Luật Bộ (Vinaya).
Các ấn bản sau gồm 4500 tác phẩm.
Đan Châu Nhĩ gồm các bộ Luận của các đại sư Ấn Độ, gồm 224 bộ với 3,626 bài, chia làm 3 phần:
(i) Stotra: Tán Tụng;
(ii) Tantra;
(iii) Kinh luận là các tập luận về kinh (Bát Nhã, Trung Quán, Duy Thức Học, A Tì Đạt Ma và Nhân Minh Học, y khoa, ngữ pháp, thi pháp…)
 Trong Đại Tạng Tàu có phần Mật Bộ được soạn giả cư sĩ Triệu Phước (pháp hiệu Đức Qui) tóm tắt như sau:
 Giáo thuyết của Mật Pháp được ghi chép lại trong nhiều bộ khác nhau. Tất cả được tập thành trong phần “Mật Bộ” thuộc bộ Đại Tạng Kinh của Trung Hoa và bằng các loại chữ khác. tuy thế phần Mật-Giáo được ghi chép bằng chữ Hán do các vị Pháp Sư vâng chiếu của các vị vua Trung Hoa sùng đạo dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán được coi là có tính cách truyền thống và đầy đủ hơn cả. Trong đó phải kể 3 bộ kinh được coi là quan trọng hơn hết vì nó trình bày gần đủ những tôn chỉ và giáo lý căn bản của Mật-Giáo. Đó là Kinh Đại Nhật (MAHAVARCAUASUTRA) thuyết về Mandala được truyền bá mạnh nhất tại miền Nam Ấn, và tông đồ lập thành phái Thai Tạng Giới và bộ Kinh Kim Cang Đảnh (VAJRASEKHARASUTRA) lập thành phái Kim Cang Giới được truyền bá tại miền Đông và bộ thứ ba là Kinh “Tô Tất Địa” để chỉ bầy chơn ngôn, đàn pháp, luật tắc cho hành giả tu tập để đắc thành tất địa.
 Còn tiếp
 Nguyễn Trần Ai
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn