- Một Chút Đồng Cảm Với Cụ Tiên Điền Nguyễn Du/ Thanh Thủy

07/09/201212:00 SA(Xem: 6140)
- Một Chút Đồng Cảm Với Cụ Tiên Điền Nguyễn Du/ Thanh Thủy



Một Chút Đồng Cảm

Với Cụ Tiên Điền Nguyễn Du



“Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như."

 

"Không biết sau ba trăm năm nữa,

Thiên hạ còn ai nhớ Tố Như?"

 

Tôi chợt nhớ đến bà nội tôi, một bà già Bắc Kỳ răng đen váy đụp đúng nghĩa, không thêm thắt.

 

Bà tôi, vốn mang dòng máu xứ Quan Họ Bắc Ninh mà nếu chịu khó chảy ngược dòng lịch sử một tý thì đó là xứ Kinh Bắc khi xưa một thời vang bóng. Nơi mà vua Lý Thái Tổ chào đời, người khởi dựng một triều đại lừng lẫy đánh Tống, dẹp Chiêm trong lịch sử. Nơi đã sinh ra một trong ba nữ thi sĩ lừng danh của nền thi ca dân tộc: Đoàn Thị Điểm. Người đã biến hình ảnh người đàn bà ôm con chờ chồng trở về sau mùa chinh chiến trong "Chinh Phụ Ngâm" trở nên đẹp như một huyền thoại. Cái xứ mà bố tôi thường bảo: "Con gái nó dữ như tinh" bằng cái giọng pha chút hài hước . Đàn ông nào ẻo lả, thư sinh, xinh trai một tý, đi ngang qua ruộng trông lớ ngớ cù lần, các cô ra câu đối mà không đối lại được thì chỉ có chết với chúng. Các cô bạo phổi ấy sẽ phóng lên khỏi ruộng, rượt theo, đuổi cho bằng được chàng trai ấy mà chọc ghẹo. Các chàng có mà chạy trối chết! Có anh còn bị xui xẻo là các nàng Quan Họ rắn mắt sẽ "tụt" cái quần dài của anh để chọc phá cho mà biết mặt. Bố tôi hay kể những mẫu chuyện nho nhỏ như vậy cho chúng tôi nghe.

 

Sự thật cho tới giờ này, hơn bốn mươi năm, tôi cũng chưa có dịp về nơi quê nội Bắc Ninh của tôi để biết nó "đầu cua tai nheo" như thế nào, nên tôi không thể hình dung hết con người xứ ấy. Nhưng có lẽ nhờ cái sắc sảo "như tinh" của các cô gái Bắc Ninh, nên xứ ấy nổi tiếng những làn điệu "Quan họ" níu lòng người. Không chỉ cái chất trữ tình, nên thơ của làn điệu, mà còn vì những cái liếc sắc lẻm, nụ cười đưa đẩy của các cô mà xứ Quan Họ trở nên nổi tiếng trong những giai điệu văn chương. Con gái Bắc Ninh lại còn nổi tiếng đảm đang, một tay vun quén cho nhà chồng làm nên công trạng.

 

Tiếng đồn là thế! Với các bà, các cô mang dòng máu "quan họ" khác thì tôi không rõ. Nhưng với bà tôi thì cái sự "đảm đang", mua quan bán tước, "một tay vung quén cho nhà chồng" là điều có thật! Khiến cho ông tôi lúc còn sống phải ngưỡng mộ thầm ở trong lòng. Có lẽ "con nhà tông không giống lông cũng giống cánh", tôi thấy cánh đàn bà con gái trong giòng họ nội tôi ít nhiều thừa hưởng được dòng máu "Quan Họ" ấy!

 

Bà nội tôi bắt đầu làm dâu từ năm mười một tuổi, cái tuổi mà tôi còn sắn ống quần bắt lươn với bọn con trai ở cái ống cống gần nhà thờ xóm tôi, và còn "mày tao chi tớ" với lũ con trai trong lớp và trong xóm. Ngạc nhiên, tôi hỏi bà, cớ gì mà bà làm dâu sớm thế. Bà cốc vào đầu tôi mắng:

- Mày còn bé biết gì. Cái thời ấy bà phải lấy chồng sớm lắm. Tại hồi đó ai cũng vậy!

Tôi nhìn bà bắt phì cười. Bởi bà mắng tôi còn bé chưa biết gì khi tôi đã gần mười sáu tuổi.

 

Đọc đến đây, chắc có nhiều người tự hỏi:" Ủa, cái cô này viết lăng nhăng gì đây? Có cái gì liên quan giữa một bà già nhà quê với cụ Nguyễn Du nhỉ?"

 

Quả là khó hình dung sự liên hệ giữa một bà già nhà quê, không biết chữ, quanh năm chân lấm tay bùn, làm ruộng, gánh lúa, với một đại thi hào dân tộc: cụ Tiên Điền Nguyễn Du. Nhưng xin quí vị chớ nóng vội, chắc chắn là phải có liên hệ thì tôi mới dám đem hình ảnh của hai người thiên cổ ra mà đàm luận chứ.

 

Bà tôi, tuy một chữ bẻ đôi không biết, nhưng bà lại nhớ đến những câu Kiều. Có một lần, đã lâu lắm, lúc đó tôi còn đang học ở những năm cuối trung học đệ nhị cấp. Một buổi trưa, khi tôi nằm trên võng đang học thuộc lòng một đoạn thơ Kiều vì sợ ngày mai bị kêu trả bài. Đang gào lên câu:

 "Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau...

 

Bỗng tôi nghe giọng bà trong phòng vẳng ra:

 "Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng"

 

Bà đọc một mạch hai câu liền lạc như vậy, khiến tôi ngạc nhiên, im bặt. Tôi nằm im lắng nghe xem bà còn đọc nữa không, thì bà cũng im lặng luôn. Không nén được tò mò, tôi hỏi vọng vào trong:

 - Bà Nội ơi, bà thuộc Kiều hả? Bà đọc cho con nghe với!

 

Bà không trả lời, nhưng chỉ năm phút sau, bà lững thững bước ra phòng ngoài chỗ tôi nằm, rồi ghé ngồi lên cái phản gỗ đối diện với cái võng mà tôi đang ê a trên đó. Bà hỏi tôi:

 - Này, cháu đang học Kiều đấy hả?

 

Tôi đáp "Vâng" rõ to, vì bà lúc này đã hơi nghễnh ngãng. Bà nhìn tôi cười móm mém, nhưng đôi mắt lại ánh lên tia tinh nghịch. Bà kể:

 - Cái thời của bà, đàn bà khổ lắm vì các cụ vốn "trọng nam khinh nữ", nên khi đẻ con gái thì các cụ lo "xoắn váy". Bà không được cho đi học, vì nhà nghèo, nên các cụ chỉ ưu tiên cho con trai đi học thôi. Bà chẳng biết lấy một chữ…

 

Tôi không ngăn được sự nóng nảy, ngắt lời bà:

- Bà không được đi học, sao bà lại biết Truyện Kiều?

 

Bà lại móm mém nói tiếp:

 - Cái này là nhờ Ông Nội con đấy. Khi ông lấy bà về lúc bà mới mười một tuổi, ông con thì mới chín tuổi. Bà vừa phải làm việc trong nhà ông. Vì ông con là con nhà giàu, địa chủ có tiếng ở làng . Bà còn phải chơi với ông như bạn. Ông con học Kiều khi ông mười lăm, mười sáu. Bà nghe ông ngâm Kiều hay, nên mới hỏi. Ông dạy bà đọc Kiều, nhưng dặn đừng cho bố mẹ chồng biết, vì các cụ sẽ mắng cho là học đòi cái thú ăn chơi.

 

Ngừng một chút bà nói tiếp:

- Ngày xưa, Ông Bà mình không thích đàn bà con gái học Truyện Kiều, vì sợ hư hỏng giống cô Kiều.

 

Nghe bà nói, tôi chợt nhớ đến câu đồng dao mà tôi đọc ở đâu đó:

"Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều"

 

Rồi bà kể tiếp:

- Ông con ngâm Kiều rất hay, và cũng thường hay tụ tập bạn bè lại để ngâm vịnh với nhau. Bà nghe mãi nên thuộc khá nhiều câu Kiều là vậy!

 

Tò mò, tôi hỏi tiếp:

 - Bà ơi, thế ông nội có thích đọc truyện Kiều không bà?

 

Bà cười nhe hai hàm...chỉ toàn là lợi:

 - Có chứ, ông thích lắm, nên ông mới dạy bà ngâm Kiều, đọc Kiều. Dư mà ông bảo đọc thì đọc thôi, chớ có bắt chước cô Kiều là không nên, vì Kiều lãng mạn quá, nào là: hẹn hò với trai rồi tự ý hẹn ước, yêu đương lăng nhăng, không chung thủy. Không ai khiến tự nhiên đi bán mình vào động để làm gái, lấy hết người này đến người khác.

 

Im lặng chép miệng móm mém một lúc, rồi bà thêm:

- Tại các cụ khó tính thì chê cô Kiều, chứ bà thấy cô Kiều tội nghiệp. Thân gái bị đày đọa như thế. Dám bán mình để báo hiếu cha mẹ mà bị các cụ ghét thì cũng tội! Nếu Kiều không làm chuyện đó, thì ai sẽ làm nhỉ? Thúy Vân thì không chịu làm, chỉ ăn no ngủ khỏe. Trong lúc sự nhà đang rối rắm, thì cô nàng vẫn "vô tư" ăn ngủ ngon lành, lại còn mắng chị là cứ khóc lóc vớ vẩn cả ngày. Hoàn cảnh thế nào, mình xử thế ấy! Thế mà lên án cô Kiều thì thật các cụ cũng hơi quá tay.

 

Bà ngưng ngẫm nghĩ, rồi lại nói tiếp:

 - Cháu thấy không, tại nàng Kiều có hiếu nghĩa, có thủy chung nên ông Trời mới mở đức Hiếu Sinh mà gạch tên Kiều ra khỏi sổ đoạn trường. Chứ nếu Kiều hư hỏng,thiếu thủy chung thì Kiều chắc đã chết ở sông Tiền Đường rồi, chứ có đâu mà được gặp lại gia đình, gặp lại Kim Trọng.

 

Tôi ngẫm lời bà nói mãi. Thú thật, tôi không thể không đồng ý với bà.

 

Câu chuyện bà cháu tôi chỉ có thế. Nhưng Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thì theo tôi từ năm này sang tháng nọ. Bởi vì, bất cứ một bài viết nào nói về thân phận con người hay cuộc sống của một tác giả Việt Nam, thì cuối cùng câu kết của bài viết thường là những giòng thơ Kiều được trích dẫn để đóng lại chủ đề. Ngẫm thế mới thấy được sức ảnh hưởng của Truyện Kiều đi vào lòng người Việt mình tuy âm thầm mà mạnh mẽ như thế nào. Một bà cụ một chữ bẻ đôi không biết, mà cũng thuộc Kiều và hiểu Kiều. Đến các nhà học giả, trí thức từ hàng trăm năm nay vẫn nặng lòng với Kiều, thì quả truyện Kiều của cụ Nguyễn Du đã ảnh hưởng sâu đậm trong dòng văn hóa Việt. Ai cũng biết "Đoạn Trường Tân Thanh" của cụ đã được không biết bao nhiêu các nhà học giả, từ trong nước lẫn ngoài nước nghiên cứu, phân tích, giảng dạy. Thậm chí, họ tranh luận rất nhiều về thân phận nàng Kiều. Có những học giả còn ví hình ảnh Kiều và cuộc đời nổi trôi của cô gái "sắc đành đòi một, tài đành họa hai" đó là hình ảnh và cuộc đời của cụ Nguyễn. Cuộc đời gian truân của Thúy Kiều được người đời sau săm soi bằng nhiều lăng kính, dưới đủ mọi góc độ, với nhiều thái độ khác nhau: phê phán, cấm đoán, thông cảm, đồng tình... Không biết có phải vì cái tên mà cụ Tiên Điền đặt cho đứa con cưng của mình: "Đoạn Trường Tân Thanh", mà nó ứng vào số phận tác phẩm. Trải qua hơn hai trăm năm, nàng Kiều của cụ Nguyễn dường như vẫn chưa hết cảnh "đoạn Trường" vì phải hứng chịu sự đánh giá của nhiều tư tưởng, nhiều thế hệ. Phải chăng đó là số phận của bất cứ một trước tác nào được xem là tác phẩm kinh điển của nền văn học thế giới?

 

Ở cái thời mà tư tưởng Nho, Khổng làm chủ đạo, các cụ đồ Nho lấy thước đo Tứ Đức, Tam Tòng ra để đo Kiều. Thấy Kiều vượt phép mẹ cha hẹn hò với Kim Trọng, rồi thì tự ý bán mình để phải: "Thanh lâu hai bận, thanh y hai lần". Các cụ bèn lắc đầu lên án nàng Kiều là một cô gái lăng loàn trắc nết, hư từ trong trứng hư ra, mới nứt mắt đã trai với gái. Ấy thế, các cụ cấm tiệt con gái chớ đọc Kiều kẻo lại hư như Kiều thì uổng công dạy dỗ của cha mẹ. Từ ghét Kiều, cụ Tiên Điền cũng bị ghét lây vì đã dám đưa ra một hình ảnh hư hỏng và tự do của một cô gái trong chốn khuê môn.

 

Khi cái chữ Tây nó bắt đầu lù lù xuất hiện ở trời Nam, lớp thanh niên mới bắt đầu thích nói tiếng Tây, tiếng quốc ngữ, đi xe đạp,cắt tóc ngắn, mặc áo vest, thì nàng Kiều lại được nhìn ở một góc độ khác. Lớp trí thức mới, mang tư tưởng Tây học, lần này lại tỏ ra thương hại một người con gái chân yếu tay mềm, nhưng số phận truân chuyên. Không những thế, lớp trẻ trí thức chê các cụ khắt khe trong chuyện trai gái hẹn hò có gì là ghê gớm, mà các cụ lên án ầm ĩ. Lớp trí thức Tây học lý luận rằng: Yêu thì phải được quyền tỏ tình với người mình yêu, chứ cứ ngậm hột thị, im ỉm thì ai mà biết! Thế là lớp trẻ trí thức lại tán dương, cổ vũ Truyện Kiều, hoan hô cụ Nguyễn, cho là cụ can đảm, có cái nhìn đi trước thời đại, ủng hộ quyền tự do luyến ái.

 

Trong thời gian, tôi đi học ở Việt Nam, cô giáo dạy văn của tôi là lớp người được đào tạo dưới ánh sáng của Max, phân tích nàng Kiều qua hình thức đấu tranh giai cấp. Nàng Kiều với hành động chống lại Bạc Bà, Bạc Hạnh,Tú bà, Mã Giám sinh...là một hành động vùng lên chống lại sự áp bức của giai cấp thống trị. Tuy không ủng hộ hành động hai lần quyên sinh của Kiều, vì cho đó có vẻ yếm thế, nhưng giới phê bình văn học cho rằng hành động vùng lên của Kiều là đỉnh cao của sự phản đối chế độ phong kiến, bóc lột, va` bọn cường hào ác bá. Vì thế, họ cho đó là điểm tiến bộ của cụ Nguyễn. Tuy nhiên, trong phần đoạn kết của Truyện Kiều, thì giới văn học XHCN lại phê phán cụ Nguyễn rằng thì là cụ đưa vào văn học nước nhà một tư tưởng hèn yếu, thụ động, chỉ biết chấp nhận số phận, không biết đấu tranh giai cấp để vươn tới tầm cao mới, hầu làm chủ cuộc đời mình.

 

Những lớp người trẻ hơn về sau, họ tỏ ra dễ dãi với nàng Kiều hơn nữa. Nhất là xã hội hiện đại, giới trẻ thừa hưởng một đời sống vật chất hơn, yêu cuồng, sống vội, thì chuyện nàng Kiều hò hẹn đêm khuya, bỏ người này, lấy người khác là chuyện thường tình ngày nay, có gì mà phải đem ra tranh luận hơn thua từ năm này sang tháng nọ. Chẳng những thế, có người còn ao ước giá như có một người tình, hay người vợ như nàng Kiều, dầu chỉ vài tháng, một năm thôi cũng đã sướng cả đời. Chẳng có ai hơi đâu chỉ trích hay lên án Thúy Kiều, kết tội cụ Nguyễn Du là bi quan, yếm thế, không có tinh thần đấu tranh vô sản.

 

Tôi xin phép không dông dài với những nhận định của mọi người nữa vì e rằng sẽ đi lan man mất. Quay trở về với bà cụ răng đen, váy đụp là bà nội tôi, thì cái nhận định của một bà cụ già không biết chữ, cả đời chỉ biết hy sinh cho gia đình chồng, nuôi con, nuôi cháu:

 "Kiều không hy sinh để cứu cha mẹ khỏi tù tội, thì ai sẽ làm điều đó? Không lẽ cứ ngồi đó mà nhìn cha mẹ bị trói, bị hành hạ???"

 

Thì tôi cho là tuyệt vời!

 

Thử nghĩ mà xem, trong lúc cha mẹ mình đang bị bọn cường hào ác bá nó vây bắt, trói gô nằm dưới đất thế kia. Thân thể già nua bị tàn tạ dưới ngọn hèo ác nghiệt mà mấy đứa con cứ trơ mắt phổng ra nhìn hay sao? Vậy chữ "Hiếu nghĩa" để đâu? Tam Tòng, Tứ Đức, Tam Cương, Ngũ Thường bỏ ở chỗ nào? Phải chăng cụ Khổng chẳng dạy con người rằng Đạo cao nhất để có thể đứng trong Trời Đất là Đạo Hiếu Thảo? Sách Thánh Hiền đâu chỉ để đọc, để học suông, mà còn phải biết thực hành, và thực hành linh hoạt, đúng dắn nữa chứ! Đọc hết đoạn Thúy Kiều tâm sự với Thúy Vân, tôi mới thấy nỗi dằn vặt, đau đớn của nàng trong việc cân nhắc bên tình, bên hiếu. Suy cho cùng, trong hoàn cảnh như vậy, cô Kiều đã làm đúng những điều cụ Khổng dạy: chữ Tình (nhờ em thay mình đền đáp tình cho Kim Trọng), chữ Hiếu (bán mình lấy tiền chuộc để giải thoát cho mẹ cha). Ai còn có thể làm điều đó ngoài cô Kiều được. Không thể là một Vương Quan nhỏ dại, một thư sinh trói gà không chặt. Cũng không thể là một Thúy Vân vô tư, thiếu sâu sắc. Chỉ có mỗi mình Kiều, người con gái tài hoa, biết cân nhắc, biết đặt tình chung lên tình riêng, biết làm cho vẹn nghĩa hai đàng: bên cha mẹ-ơn sinh thành dưỡng dục, bên người yêu-đã lỡ ước thề, mới có thể làm điều can đảm: bán mình chuộc tội cho cha mẹ.

"Cậy em, em có chịu lời,

"Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

"Giữa đường đứt gánh tương tư,

"Giao loan chắp mối tơ thừa mặc em.

"Kể từ khi gặp chàng Kim,

"Khi ngày quạt ước, khi đêm chén th.

"Sự đâu sóng gió bất kỳ,

"Hiếu tình có lẽ hai b vẹn hai?

"Ngày xuân em hãy còn dài,

"Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

"Chị dầu thịt nát xương mòn,

"Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

 

 Tôi không có ý định phân tích Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, vì tự xét mình không đủ khả năng. Tôi chỉ muốn đặt mình trong hoàn cảnh cô Kiều, trong hoàn cảnh của cụ Tiên Điền để thông cảm với nhân vật Kiều và hiểu cụ, chứ không dám mổ xẻ tác phẩm của cụ. Truyện Kiều là đứa con tinh thần của cụ, là tâm sự, hoài bão, là nổi niềm của một nhà thơ giàu tâm sự. Cuộc đời cụ Nguyễn Du cũng lắm đa đoan. Cụ mồ côi cha mẹ từ khi còn nhỏ, phải lưu lạc sống với người anh rất lớn tuổi, cùng cha khác mẹ. Có lẽ cuộc sống mồ côi từ sớm, cùng với cuộc đời trôi nổi, danh phận thuở thiếu thời gặp nhiều sóng gió, nên cụ sớm có cái nhìn sâu sắc, thông cảm cho thân phận con người qua cuộc đời bể dâu. Thông qua hình ảnh tài sắc và nổi truân chuyên của nàng Thúy Kiều, có lẽ cụ chỉ muốn bày tỏ tâm sự uẩn khúc của mình trước cảnh đa đoan của cuộc đời. Những cảnh đời mà đôi khi con người thừa trí lực vẫn phải bó tay qui hàng, như nhân vật Từ Hải vậy! Nào ai dám vỗ ngực rằng: "Trong suốt cuộc đời tôi, cái gì tôi muốn là tôi sẽ làm được!" Trong chúng ta hầu như ai cũng có những lần thúc thủ, bó tay trước hoàn cảnh trói buộc, xoay trở không xong, đành gồng mình chịu trận "Để xem con tạo xoay vần đến đâu!". Truyện Kiều gần gủi với tất cả người Việt Nam vì truyện Kiều chứa đựng tất cả những dằn vặt, khổ đau, uẩn ức của một kiếp người khi vẫn còn lẩn quẩn trong dòng đời mê muội. Chỉ khi nhận ra được một điều: "Quay đầu là bờ", thì mọi nút thắt của cuộc sống tự nó sẽ gỡ ra mà không cần một lực nào tác động. Để thấy đâu là bờ, cụ đã nhắn nhủ với lớp hậu sinh:

 "Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ Tài"

 

Ai hiểu được chữ "TÂM" chính là hiểu được lòng cụ vậy.

 

Người ta thường nói về số phận, và lý luận rằng: giày dép còn có số, huống gì là con người. Đúng là sau một thời gian dài lăn lộn trong dòng sinh tử, tất cả chúng ta ai cũng thừa nhận có Định Mệnh chi phối đời người. Xét cho cùng, mỗi người đều có một số phận riêng, nhưng số phận đó không hoàn toàn trói buộc con người. Định mệnh dẫn dắt sự kiện xảy ra trong đời sống của mỗi người không lường trước được, nhưng phần quyết định chống lại số phận, hay nương theo số phận để quyết định sự tồn vong của bản thân thì lại thuộc về chính con người. Thế nên, cụ mới mượn lời sư Giác Duyên để phân bày:

 

Sư rằng: "Phúc họa đạo Trời,

"Cỗi nguồn, cũng ở lòng người mà ra.

"Có trời mà cũng tại ta,

"Tu là cõi phúc, tình là dây oan.

 

Khi còn nhỏ, tôi học Truyện Kiều với tâm trạng của một học sinh bị bắt phải học, vì nó nằm trong chương trình giảng dạy. Tôi không mấy chú trọng đến Truyện Kiều. Lớn lên một chút, tôi đọc Truyện Kiều với sự tò mò một phần vì thân phận người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại gian truân, đau khổ. Phần khác vì những phán xét khắc nghiệt của người đời về tính lãng mạn, lòng thiếu thủy chung của Kiều trong bối cảnh Nho-Khổng. Khi trải đời hơn một chút, biết trăn trở với cuộc sống, tôi đọc lại Truyện Kiều với niềm thông cảm với Đại Thi Hào Nguyễn Du trước nổi buồn nhân thế, và sự kính phục sâu xa khi đọc lời khuyên thâm thúy của cụ cho những ai muốn tìm sự bình an khi còn tại thế.

 "Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

 

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Có đâu thiên vị người nào,

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,

Có tài mà cậy chi tài,

Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ tài."

 

Chỉ dùng cái TÂM trong sáng, thiện lành để đối đãi con người thì đó mới là người biết sống, biết an hưởng niềm hạnh phúc trên cõi đời này.

 Bởi vậy, cho dù cụ khiêm tốn mà nói rằng:

 "Lời quê chắp nhặt dông dài

Mua vui cũng được một vài trống canh".

 

Tôi vẫn tin rằng lời quê của cụ là một trong những bài học về luân lý, đạo đức xứng đáng nhất, giá trị nhất mà người Việt Nam đáng tự hào trong nền văn học nước nhà. Giá trị đó không chỉ bằng câu nói khẳng định của cụ Phạm Quỳnh khi nói về Truyện Kiều: "Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn", mà nó còn được khẳng định bởi qua người đàn bà quê mùa, không biết chữ trên kia. Tôi thầm nghĩ: khi nước Việt Nam vẫn còn trên bản đồ thế giới, dân Việt vẫn còn yêu mến tiếng Việt, thì chắc rằng Truyện Kiều sẽ còn lưu truyền mãi mãi.

 

Thế nên, cho dù cụ có viết:

 "Không biết sau ba trăm năm nữa,

Thiên hạ còn ai nhớ Tố Như?"

 

Tôi vẫn tin rằng không chỉ ba trăm năm nữa, mà đến ba ngàn năm nữa thì lời cụ dạy vẫn không sai:

 "Có tài mà cậy chi tài,

Chữ tài liền với chữ tai một vần."

 

Và, chữ "TÂM" của cụ vẫn luôn luôn bằng ba chữ "TÀI".

 

Thanh Thủy

California 2/2012

 




 


 Thanh Thủy

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn