- Thiền Sư Hiện Đại

25/02/201112:00 SA(Xem: 7491)
- Thiền Sư Hiện Đại


Thiền Sư Hiện Đại

 

 

Hiện nay thời đại văn minh, sự giáo hoá của các bậc thầy, cần phải hợp căn cơ của đại chúng và cũng cần kết hợp văn hoá - nghệ thuật. Từ đó có thể giúp cho một số người hé mở cánh cửa tâm linh, muốn mở cánh cửa tâm linh, chúng ta cần có cơ hội tốt. Bộ môn nghệ thuật đa dạng là phương tiện có thể giúp cho đại chúng bước vào con đường đạo tu tập để có trạng thái an vui, nhẹ nhàng.

 

Thầy Thanh Trí Cao là một trong những vị thầy đã chọn con đường nầy, thầy thành đạt các bộ môn nghệ thuật và phát triển văn hoá Phật Giáo nên đã sáng tác và trưng bày tác phẩm "Dấu Ấn Nghệ Thuật" thật ngoạn mục bằng văn, thơ và tất cả sự sáng tác của thầy.

 

Đọc qua tác phẩm "Dấu Ấn Nghệ Thuật" tôi không khỏi ngạc nhiên, chẳng những thơ của thầy rất sống động mà văn cũng dễ cảm hóa và chinh phục người đọc. Thầy khéo đưa mọi người vào thế giới nghệ thuật linh động sáng tạo cần mẫn và đầy tự tin, đúng là một thiền sư hiện đại nhập thế. Thông thường người ta thành đạt về nghệ thuật, họ chỉ thích ngồi xơi nước thiền trà cùng người hâm mộ chứ không muốn vất vả, còn thầy thì không ngại gian lao, không từ khó nhọc miễn sao việc làm ấy đem lại lợi ích cho thiền môn và tha nhân thì thầy không ngại. Ngành nghề nào cũng đòi hỏi con người có sự cần mẫn, thầy bắt đầu việc làm đơn giản rồi đến tinh vi, hơn nữa mới có được thành tích sâu dày. Những tác phẩm của thầy đẹp tự nhiên, nội dung phong phú hình thức truyền cảm rất nghệ thuật. Một thiền sư không chỉ nhận cái đẹp cho riêng mình mà còn đem cái đẹp ấy hòa nhập vào cái chung của vũ trụ nhân sinh. Thầy đã vận dụng óc sáng tạo để cống hiến cho nền văn hoá nghệ thuật tâm linh rất ý nghĩa. Thầy phát triển nghệ thuật tự nhiên như câu: 

 “Cố ý trồng hoa, hoa ủ rủ;

 vô tâm tiếp liễu, liễu xanh um”.

Hơn nữa văn hóa nghệ thuật Phật Giáo là phương tiện để đưa con người tìm về thực tại. Khi Phật còn tại thế các bậc A La Hán chứng đắc Niết Bàn tịch tịnh qúi ngài chỉ muốn nhập vào cảnh giới ấy mà chẳng muốn ra cứu đời khổ đau, nên bị Phật quở trách: "Các ông là những người đốt cháy mầm mống Phật pháp mà chẳng làm cho nó đâm chồi nẩy lộc". Các ngài sống trong cảnh Niết Bàn vắng lặng mà còn bị Thế Tôn rầy như thế, huống gì chúng ta chưa cảm nhận đưọc trạng thái Niết Bàn là gì. Vì chân lý Ngài đã đạt được đều muốn cho chúng sanh cũng đạt được như Ngài.

 

Thầy Thanh Trí Cao đang ươm hạt giống Bồ Đề như chư vị Bồ Tát, mà gieo vào đất tâm của con người bằng cách đưa nghệ thuật vào cuộc sống để họ cảm nhận được sự thanh thoát nhẹ nhàng của tâm linh mà người hiện đại cần phải hướng tới. Cuộc sống cằn cỗi của thế giới vật chất khiến cho con người mỏi mệt. Nghệ thuật văn hoá tâm linh đưa con người vào thế giới sống động, an vui cứu cánh là sự giác ngộ. Hơn thế nữa, thầy là một hành giả đạt đến chỗ thâm sâu muốn đem kinh nghiệm sở học chia xẻ cùng mọi người bằng sở trường nghệ thuật. Từ chổ thâm sâu ấy, thầy sáng tác rồi trưng bày nhiều tác phẩm gợi cảm nhẹ nhàng cho chúng ta thưởng thức. Qua nhiều bộ môn: Hội họa, nhiếp ảnh, điêu khắc, nghệ thuật cắm hoa…Đã nói lên một phần nào đời sống nghệ sỹ của thầy hành hoạt tiêu biểu.

 

Vâng! những gì tôi sắp nói là những danh từ khô cứng, không bằng chúng ta thưởng thức sự tự nhiên của nghệ thuật, tự nhiên của vạn hữu bằng sự cảm nhận mà thi sĩ Bùi Giáng nói:

 " Tôi bước qua từ ngữ rụng hai lần ".

 

Về nhân sinh quan, nếu là người có duyên đến chùa tìm hiểu và học đạo sinh hoạt vui chơi, từ em bé ngây thơ đến các cụ lão thành, thầy đều cảm hóa họ có hạt giống từ tâm tự phát. Nếu như thầy chỉ thích ngồi thiền trà thì ít có người tin Phật pháp vững chắc. Sự kham khổ là hạnh của Phật, Bồ Tát và cũng là điều thực tế nhứt khiến cho người khác cảm phục, nhờ sự sang tạo nghệ thuật và hạnh đồng sự, đồng hành trong cuộc sống của thầy nên Phật Tử có niềm tin sâu sắc, khiến cho ngôi chùa Bảo Quang ngày càng xán lạn. Về vũ trụ quan, thầy luôn hòa nhập thiên nhiên, từ cành hoa cỏn non đến cây đại thọ thầy đều săn sóc để chúng có nghị lực vươn lên nhởn nhơ khoe sắc; nhưng có điều khi thầy uốn nắn tỉa cành để chúng trở thành tác phẩm có giá trị, khó tránh khỏi sự đau mình của chúng. Tôi có chút thương tâm và liên tưởng đến việc học cách làm người xuất gia khi còn bé, ai cũng học sư phụ của mình nhiều phép tắc quy cũ để tạo nên sức sống thiền môn. Bao nhiêu điều thử thách của thầy bổn sư và chông gai trên đường đạo, người xuất gia phải vượt qua tất cả, có như thế mới cảm nhận được chỗ thâm sâu của đạo.

 

Cũng như tôi đã sinh ra và lớn lên trên mảnh đất cằn cổi sỏi đá nơi xứ Quảng. Nhờ sự tôi luyện nơi ấy khi tôi còn bé, nên về sau tôi mới cảm nhận được đồng bằng mầu mỡ nơi miền lục tỉnh và nguyện sống trong học viện một thời gian khá dài. Để nuôi dưỡng tinh thần thấm nhuần đạo vị, đó là tự nguyện của chính mình. Nếu tôi sinh ra và trưởng thành trong vùng đất mầu mở thì không thể chịu đựng được qui luật chặt chẽ rất có ý nghĩa đối với tôi, để uốn nắn mình khi tuổi còn thơ ngây cho đến khi trở thành người xuất gia. Phần nhiều người ta cho tôi là khờ dại, nhưng tôi muốn học hỏi nơi qúy Ni Trưởng những tinh hoa của các bậc thầy, với tâm nguyện xuất gia ban đầu của tôi làm sao mình trở thành người xuất gia đơn thuần và rất muốn làm một du Tăng rày đây, mai đó và nơi nào cũng là Tam Bảo chung.

 

Một người yêu nghệ thuật và sáng tác như thầy Thanh Trí Cao, nếu sống trong xã hội khiêm tốn, thì khó phát triển năng khiếu sẵn có của thầy, còn như sống trong xã hội văn minh thì như cá gặp nước như chim về rừng, thầy mặc nhiên phát triển, nếu là người khác thì dễ sa ngã và chùn bước, nhưng đến nay thầy vẫn thong dong nơi đất nước rộng lớn đầy hoa thơm cỏ lạ và vẫn là đệ tử ngoan của Đức Phật, đây là điều đặc biệt của thiền sư hiện đại. Có khi nhờ cuộc sống kham khổ trước kia làm nền móng cho thầy xây lâu đài tráng lệ về sau. " Có khó mới ló cái khôn " như thầy đã nói:

 "Có gặm nhắm từng mãnh vỡ của cuộc đời mới cảm nhận được giá trị của hương vị giải thoát”.

 

Thế nên, thầy có uốn nắn tỉa cành những cây kiểng kia đến mức độ nào đi nữa nó cũng rất vui và cảm ơn thầy. Từ góc độ nầy cho chúng ta thấy thầy đã được rèn luyện và tự rèn luyện mình trong giai đoạn khó khăn nhất của xã hội đương thời, nhất là sau năm 75, một xã hội đảo điên vô thần…và cũng từ đó như nơi núi rừng heo hút của xứ Bình Thuận, nên thầy đầy đủ bản lĩnh xông pha ngang dọc trong thế giới mênh mông của nhân sinh và vũ trụ quan mà chẳng làm tổn thương một cành cây đơn độc nào, cho dù thầy có sống góc trời cô quạnh nào đi nữa thầy cũng làm cho nơi ấy sáng rỡ thêm, huống chi là trên đất nước văn minh đầy khoa học kỹ thuật.

 

Đến đây tôi muốn đi một vòng du lịch, nếu tôi không ghi lại thì rất tiếc, tôi qua xứ người mở rộng tầm nhìn cuộc sống vừa lịch sự vừa ngay thẳng, quy luật chặt chẻ văn minh rộng lớn, nhứt là đi qua những con đường dài thênh thang ngang dọc, những chiếc cầu uốn cong chồng chất tôi cứ ngỡ bức vẽ đang xuất hiện trước mặt, rất tiếc tôi không mang theo máy ảnh để chụp hình, qua cầu vịnh San Francisco thật dài hình chữ L xe chạy hơn 10 phút, nếu ta đứng bên nầy nhìn xuyên suốt thì thấy cầu như làn sóng uốn mình cao thấp, nhưng khi xe chạy ta chỉ thấy một đường thẳng tắp, như lên từng lầu 28 của city hall của thành phố San Jose, nhà nào cũng như nhà nấy, khu nào cũng như khu nấy, cách bố trí thành phố rất đều nhau rất hài hòa xanh tươi của những dẫy cây mát trồng thẳng theo lề đường. Và trên đường qua tiểu bang Utah có vùng núi rất đẹp, cây chen đá, người chen cây dường như tôi lạc vào cảnh thần tiên. Núi rất cao nối tiếp nhau rất dài rất thiên nhiên, nếu như có thầy Thanh Trí Cao thì có những bức ảnh đẹp tuyệt vời! Vào nơi nầy tôi chẳng muốn ra vì bản tánh tôi rất thích núi, nên tôi hay về Trà Cú để đối diện với thiên nhiên cỏ cây. Trời đất đã ưu đãi cho dân Hiệp Chủng Quốc nền văn hóa đa dạng, phong cảnh thiên nhiên của một nước rộng lớn nhiều chủng tộc quy tụ về đây, tạo thành một nước văn minh hiện đại.

Thầy Thanh Trí Cao là một trong những tu sĩ đã đóng góp sắc thái nghệ thuật sinh động vùng trời Nam Cali. Nếu ta tìm hiểu thì sẽ được thưởng thức văn hoá, nghệ thuật của thầy. Nghệ thuật là một sự sống tươi mát làm êm dịu tinh thần của con người, nó xoa dịu và hóa giải nỗi vất vả niềm đau thương trong tâm của chúng ta, khi cuộc sống của chúng ta chưa có lối thoát. Sự phát triển văn hóa Việt Nam trên quê hương thứ hai của thầy là thầy đã đền ơn bậc sinh thành và dưỡng nuôi.

 

Nói đến núi rừng Trà Cú tỉnh Bình Thuận cũng như Tổ Đình Long Đoàn, lúc thiếu thời thầy Thanh Trí Cao tu tập ở đó, có phải chăng núi rừng ẩn mật phiêu bồng đã nuôi nấng tinh thần và đạo lực cho đến ngày nay thầy có bộ óc nhạy cảm sáng tạo của một tu sĩ.

 

Nói đến linh địa Trà Cú, Tổ Hữu Đức là bậc khai sơn tạo tự và hàng phục những loài thú dữ lúc bấy giờ. Tương truyền Tổ Hữu Đức Ngài đã hàng phục Bạch Hổ, hàng phục những loài rắn hổ mang…Loài khỉ thường hái trái cây rừng cúng dường Ngài hằng ngày, khi khát Ngài uống nước suối. Ngày đêm thiền quán đạt đến chân lý thâm diệu thể sắc không và thực hiện bản nguyện độ sanh.

 

Trải qua nhiều vị Hòa Thượng kế thừa đạo nghiệp, chùa Trà Cú có hai ngôi chùa, gọi là chùa trên và chùa dưới đều có đông đảo Phật Tử quy ngưỡng, hành hương nhân ngày vía Tổ, nhất là mùa Xuân. Mùa Xuân nào cũng thế, hàng ngàn người đổ về chốn tổ đình núi Trà Cú để hưởng không khí yên bình và cầu nguyện cho gia đạo bình an. Không khí nơi tổ đình Trà Cú rất đặc biệt khó mô tả bằng ngôn ngữ, chỉ có người đến đó mới cảm nhận được tính chất thiêng liêng huyền diệu của núi rừng.

 

Quê mẹ còn đó tổ đình còn đây, mong một ngày nào đó thầy vận lòng từ xuyên suốt chẳng ngại sự ngăn đồi, cách biển trở về nhìn lại núi đồi năm xưa bằng tuệ nhãn sáng tạo của mình làm cho tổ đình thêm phần khởi sắc.

 

Cuộc sống hiện giờ vượt hơn thời xưa, ai cũng thiết tha cho quê hương giàu đẹp, nhưng mỗi người nhìn cái đẹp khác nhau, con rất muốn người Phật Tử Việt Nam biết nhìn cái đẹp dưới lăng kính mới mẻ có nghệ thuật nhẹ nhàng để giải tỏa những kiến chấp sai lầm mà người đệ tử Phật không thể cố chấp. Thầy Thanh Trí Cao có quá khứ đầy cam go nên thầy mới sáng tạo cho hiện tại và tương lai đầy sắc màu óng ánh, thầy biết dùng trí tuệ của mình để chuyển hóa tâm hồn người Phật Tử Việt Nam tại xứ người hướng đến: Chân -Thiện - Mỹ. Cho dù ai đó tánh sỏi đá cứng đến mức độ nào đi nữa qua cái nhìn của thầy cũng chuyển hóa trở thành bông hoa linh cảm. Như thơ thầy đã minh họa:

 

 “Tánh sỏi đá thực thà kỳ diệu,

 Linh cảm truyền linh cảm bông hoa”.

 

Thầy đã thi vị hóa hạt sỏi đá kia trở thành bông hoa truyền cảm thật là nghệ thuật ngoạn mục! Thầy còn chiêu dụ được hạt nắng soi rọi cả đất trời bằng cảm tính của mình để đặt vào hạt thơ thì việc trên dễ như trở bàn tay. Thầy còn nói:

“Tất cả chỉ để hiểu được chính mình, tôi cho rằng khi hiểu được chính mình là hiểu được tất cả sự vật, từ đấy phát sinh biết bao kỳ diệu nơi tận cùng của hình tướng. Nếu quán thông tận cùng của ngôn ngữ, tận cùng của ý niệm, lúc ấy ngôn ngữ tan biến, hình tướng không còn, ý niệm cũng chẳng có chỉ còn năng lượng kỳ diệu, ta trực nhận rồi mỉm cười với sự tự nhiên hiện hữu của chúng. Thầy còn dùng trí tuệ vỗ về để chuyển hoá từng lớp dầy của kiến thức phủ lên trên sự vật biến thành bông hoa đài các tuyệt vời!”.

 

Con đường thầy đi thật nhẹ nhàng, từ sự chấp cứng về hình tướng thô kệch, thầy chuyển thành bông hoa đài các rất dễ thương! Nghệ thuật của thầy rất cao, nhiều lần thầy nhận huy chương vàng quốc tế môn nhiếp ảnh. Qua đó, thầy nhìn quê mẹ có nhiều thao thức ý nghĩa tự do...Không có sự tự do nào bằng sự tự do của đời sống tâm linh siêu thoát. Nghĩa là bậc tuệ giác vượt thoát phạm trù ngôn ngữ, hình tướng, kiến thức…Ấy là bậc thầy khả kính.

 

Bởi thế nên thầy còn phải ưu tư hơn, lắng sâu hơn để hòa nhập vào vùng trời quê mẹ quá nhiều chứng tích đau thương cần được hóa giải. Có lẽ tôi đòi hỏi quá nhiều, nhưng với năng lực của thầy ứng dụng nghệ thuật "tùy duyên bất biến" mang đạo vào đời. Thực hiện hạnh nguyện lợi tha là trả ơn chư Phật và thầy tổ muôn một.

 

Tấm lòng thiết tha về quê mẹ của thầy thật đậm đà và dễ cảm mến:

 "Vóc dáng khôi nguyên tình của mẹ,

 Quê hương khát ngưỡng một điểm chung".

 

Tôi rất mong thầy sẽ được như ý nguyện. Thơ của thầy diễn tả cuộc sống nhân sinh, tình người, tình nước non mà người viễn xứ luôn khắc khoải và khát vọng. Hơn thế nữa, bài thơ "Dòng Sông Thấp Thoáng Con Thuyền", lẽ ra để nguyên nó hay hơn, nhưng tôi muốn hiểu thêm một chút chứ không bình luận hay đánh giá. Thầy sáng tác bài nầy thật là độc chiêu! Ca sĩ hát lên như xé tan màng lưới mong manh, kiến chấp sâu dày để đưa lữ khách vào nơi phẳng lặng êm ả của tâm linh. Thầy Thanh Trí Cao chọn lối đi bằng trực giác qua các trường phái nghệ thuật và thi ca.

 

Đức Phật Ngài đã dạy các hàng đệ tử, trong tám vạn bốn ngàn pháp môn tu, mỗi pháp môn là một lối vào, mỗi pháp môn đều quán chiếu “Tự Ngã”. Pháp hữu hay pháp vô, hành giả phải thể nghiệm và thực chứng mới thấu triệt chân lý giác ngộ.

 

Kinh Pháp Hoa có câu: “Chánh Pháp còn buông bỏ huống chi là phi pháp". Thầy còn minh họa con thuyền thấp thoáng trên dòng sông xưa sắp cập bến. Bản giác ấy hằng hữu tĩnh lặng mãi mãi khôn cùng; rồi thầy rất vui, phát nguyện bắt một nhịp cầu để đưa Phật Tử từ bờ mê vượt qua bến giác. Thầy còn mô tả ngọn đèn giác ngộ mãi mãi chẳng khi nào chấm dứt, thầy còn muốn đem nghệ thuật thiền cống hiến cho đời, đây là tâm đại từ bi, thầy tự mở ra cho chính mình bằng một con đường thênh thang. Hiện nay thầy Thanh Trí Cao dùng phương tiện văn hóa, nghệ thuật để cung ứng cho người trí thức lẫn bình dân trong thời hiện đại.

 

Một buổi tối trăng sáng đẹp trời, tôi suy tư về câu “Thảo am nhỏ trăng treo lơ lửng" của thầy Thanh Trí Cao, nếu thầy tả cảnh thì thật là đẹp, còn nói về thầy cảm nhận được tuệ giác trong thân tứ đại càng đẹp hơn. Tôi nhờ suy tư câu ấy mà nhận ra câu "Trăng lăng già bóng nguyệt thuyền bát nhã chơn không," giữa không gian vô tận và thời gian vô cùng, trong Kinh Lăng Già.

 

Cảm ơn Hòa Thượng và đại chúng, chuyến đi của con rất ý nghĩa cho việc tu học và hành đạo, cũng như sự giúp đỡ của Hòa Thượng và Chư Tôn Đức Tăng Ni Phật Tử quen biết về chùa Phước Minh Quảng Ngãi quê con.

 

Thiết tưởng, cho dù bất cứ nơi đâu có những ngôi chùa phát triển văn hoá - nghệ thuật thì chúng ta nên tìm hiểu để học hỏi và phát hiện những sắc thái đặc thù điều kỳ diệu nơi người ấy. Nếu ta có chút cảm nhận về nội tâm thì sẽ gặp ở một điểm trực giác mà chẳng cần biết người nầy, người kia, xứ nầy, xứ nọ...

 

Vâng! Tôi cũng biết tất cả chỉ là phương tiện, thế nhưng tôi viết bài nầy muốn chứng minh rằng dòng đời thực tại có những vị thiền sư hiện đại mang chí nguyện độ sinh qua các môn học thuật.

 

Tôi lang thang gặp được thầy Thanh Trí Cao và một vài vị thiền sư ẩn cư nơi thâm sâu cùng cốc, có nhiều điểm đặc biệt mà tôi muốn nói. Đi vòng quanh xứ người, tôi cảm nhận được một điều, sống trong đời nầy ai thức được thì cứ thức bằng nhiều phương pháp khác nhau, ai ngủ thì cứ ngủ còn thầy Thanh Trí Cao đường thênh thang thầy mãi cứ đi. Thầy là một vị Hòa Thượng bình thường phát triển hết năng lực giáo hóa của mình, điều đặc biệt của người tỉnh giác làm việc thật nhiều mà luôn luôn nhàn nhã tự tâm, dù gặp cảnh khó khăn đến đâu người cũng có đủ nhân cách. Dù có sống chung với chúng sanh khổ đau dẫy đầy, thầy luôn là một thành viên biết sáng tạo trên lộ trình tâm linh thể nghiệm đạo giác ngộ.

 

Một lần nữa, con xin kính chúc chư Tôn Giáo Phẩm chân cứng đá mềm duy trì và phát triển truyền thống văn hóa và đạo Phật Việt Nam nơi đất khách quê người. 

 

 Trân Trọng

 Thích Nữ Như Bảo

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn