- Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển

04/06/201312:00 SA(Xem: 3464)
- Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển



Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển

(Buddhism its essence & development)

Tác giả: Edward Conze

 Tùng Sơn dịch


Tả Phái Mật Giáo


Xuyên qua những nghiên cứu về lịch sử Mật giáo, chúng ta nhận thấy có sự khác biệt giữa tả phái Mật giáo và hữu phái Mật giáo (xem phần lịch sử Mật giáo). Những nét đặc biệt của tả phái Mật giáo gồm có:

 

  1. Tôn thờ tính lực (Shaktis), có nghĩa sùng bái nữ thần trong tư thế nữ thần kết hợp cùng nam thần và ôm bọc lẫn nhau, và cho đó là nguồn gốc phát sinh sự sống.
  2. Tôn thờ thần phẫn nộ, nổi giận (Bhairava), kèm theo rất nhiều ác qủy và những thần làm khiếp sợ cùng với những nghi thức phức tạp liên quan đến mộ địa.
  3. Phương pháp tu tập mang đến giải thoát gồm có giao hợp tình dục, và một số hình thức không theo tiêu chuẩn ‘đạo đức’.

 

Phương cách tu tập theo tả phái Mật giáo gặp sự chống đối mãnh liệt từ những người bên ngoài về mặt đạo đức, và cũng chính vì thái độ phẫn nộ đã ngăn trở họ hiểu rõ ràng về trường phái này. Dù sao sức sống trường phái này đã làm mọi người ngạc nhiên, sau qua bao nhiêu thế kỷ tả phái Mật giáo vẫn còn tiếp tục duy trì sức mạnh rất quan trọng trên phương diện lịch sử tư tưởng tôn giáo Đông phương. Do đó chúng ta cần phải nỗ lực tìm hiểu đúng đắn ba tính chất nổi bật của tả phái Mật giáo.

 

1. Giáo lý Phật giáo cổ xưa là hệ thống tư duy nam tính rất ư nghiêm khắc, và cũng chỉ chấp nhận vài nữ thần có tính chất phụ thuộc. Theo giáo lý này những vị thần ở cấp độ cao không còn phân biệt nam hay nữ, vì tất cả đều sống, cư ngụ ở nước Phật. Tuy nhiên nữ giới còn gặp nhiều chướng ngại để đạt đến đỉnh cao nhất của tinh thần, và để thành Phật đạo, Bồ Tát không thể tái sinh thành phụ nữ. Người phụ nữ không thể nào thành Phật được.

 

Khởi đầu Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita) và Tara là những vị thần Phật giáo đứng biệt lập. Tôn thờ thần Tara ở Phật giáo có lẽ vào khoảng 150 năm trước kỷ nguyên. Chữ Tara do từ tiếng Phạn Tarayati nguồn ngữ có nghĩa là độ trì, là nữ thần cứu thế trợ giúp chúng ta đi sang bờ bên kia, diệt trừ mọi bất an, sợ hãi, và ban cho thành tựu mọi ước nguyện. Tara là sản phẩm sáng tạo tâm linh của quần chúng. Trong khi đó Bát nhã ba la mật đa (Prajnaparamita) phát sinh từ nhóm nhỏ những nhà tu hành khổ hạnh. Ở Đại thừa thời đó Bát Nhã Ba La Mật Đa không chỉ có nghĩa là đức hạnh, thánh kinh, thần chú mà còn có nghĩa là vị thần. Từ đó việc nhân cách hóa trí tuệ siêu việt dường như bắt đầu vào khoảng đầu kỷ nguyên. Trong “kinh Bát Nhã”, trí tuệ được giảng như “người mẹ của chư Phật”. Vậy thì câu này mang ý nghĩa gì? Tương tự như đứa bé sinh ra từ người mẹ, sự giác ngộ viên mãn của Phật nẩy sinh từ trí tuệ viên mãn. Có nghĩa nữ thần chỉ bảo chư Phật hay trí tuệ viên mãn về phương cách sống ở thế gian. Trong tinh thần này nguyên lý nữ tính có thể xem như ngang hàng với Phật, có phần nào ở trên Phật. Thật là lý thú cho thấy tính chất đối chọi, kinh Bát Nhã nhấn mạnh đến nguyên lý nữ tính, bắt nguồn từ miền nam Ấn Độ, người dân Dravidian nhận ảnh hưởng quan niệm này vẫn tiếp tục duy trì chế độ mẫu hệ. Trong khi dó người ở miền bắc theo Bà La Môn giáo nhấn mạnh đến nam tính. Hầu hết trong mọi tư tưởng cổ điển chúng ta đều tìm thấy khái niệm nguyên lý vừa biểu hiện cho cả trí tuệ lẫn nữ tính, và đồng thời phối hợp quan niệm mẫu tính lẫn đồng trinh. Cùng vào thời kỳ đó ở vùng Địa Trung Hải có thần Sophia được dùng như mẫu tượng cho các thần như Ishtar, Isis, và Athene; Sophia là biểu tượng pha trộn giữa tư tưởng trí tuệ và tư tưởng người mẹ vĩ đại, đặt bên cạnh song song người phái nam vĩ đại. Giống như thần Ishtar và mẹ Mary đồng trinh, Bát Nhã Ba La Mật Đa về căn bản vừa là người mẹ và cũng là người thiếu nữ đồng trinh. Do đó Bát Nhã Ba La Mật Đa là ‘người mẹ của chư Phật’, nói cách khác nữ thần này không phải không sinh con, mà sinh rất nhiều con, kết thành nhiều quả tốt, và đó là hình ảnh nữ thần biểu lộ với lồng ngực căng tròn. Trong khi đó ở mặt khác nữ thần giống như thiếu nữ đồng trinh, ‘còn trong trắng, chưa bị ô nhiễm thế gian’, có rất nhiều kinh điển, văn kiện nhấn mạnh đến tính chất huyền diệu của nữ thần này hơn bất cứ điều gì khác.

 

Một mặt Phật giáo công nhận vị thế quan trọng của nữ tính đối với thế gian, đã nhân cách hoá thành nhiều nữ thần, mặt khác Phật giáo nói chung lại không khích lệ cho lắm khi đề cập thái độ tính dục đến phái nữ, thường tránh né hay nói một cách hời hợt về ý nghĩa tính dục và cả về nguyên lý tương quan giữa nam và nữ giới. Trong khi đó tả phái Mật giáo đem ra bàn luận giải thích công khai những khái niệm xuất phát từ đời sống tính dục tác động đến hiện tượng tinh thần. Có một điều hiển nhiên là về vấn đề tính dục, hầu hết các nhà tâm lý học không giấu diếm cho nó thuộc vào phạm trù kinh nghiệm có tính chất huyền bí. Ngay cả những tư tưởng hình nhi thượng học trừu tượng đi nữa cũng không phải hoàn toàn không có tính chất tính dục trong đó. Ngay cả đến những triết gia thường được xem như lạnh lùng, không còn tính chất tình cảm con người đi nữa cũng đã phải cảm nhận được điều này. Có người hỏi nhà triết gia Immanuel Kant là tại sao ông không lập gia đình. Kant đã trả lời rằng cả cuộc đời ông ta đã có một ‘người yêu’; Người yêu đó là triết học, và ông ta mong muốn trung thành mãi mãi với ‘người yêu’ đó. Tương tự như thế những tác giả bộ kinh Bát Nhã chắc hẳn phải biết rằng theo đuổi trí tuệ viên mãn không khác chi tính chất tương quan luyến ái hay tình yêu với đấng tuyệt đối. Thật ra cũng là điều thú vị kiên trì, theo đuổi trí tuệ viên mãn cho đến tận cùng mà cũng không nắm bắt được nó. Đây rõ ràng là bài học dạy chúng ta về Bồ Tát chạy theo tư duy về trí tuệ viên mãn với nhiệt tình chiếm đoạt lấy nó giống như người đàn ông luôn nghĩ ngợi về người phụ nữ đẹp, hấp dẫn, duyên dáng sau khi gặp một lần, và bị cấm đoán không cho gặp nữa.


Tuy nhiên hầu hết những luận văn có liên quan hay ám chỉ về trí tuệ đều được phái tính lực mang ra trình bày thuyết giảng. Theo trường phái này thực thể cao nhất là trạng thái kết hợp nguyên lý nữ tính (tính thụ động) và nguyên lý nam tính (tính năng động). Nguyên lý năng động được gọi là thiện xảo phương tiện, còn nguyên lý thụ động được gọi là trí tuệ, và chỉ có sự kết hợp hai nguyên lý này mới có thể mang đến giải thoát. Có nghĩa đấng tuyệt đối là sự kết hợp hai nguyên lý, và hành vi kết hợp làm hài lòng đấng tuyệt đối với ‘niềm hạnh phúc tối thượng’. Tác phẩm nghệ thuật theo trường phái này biểu hiện bằng hình tượng Phật, Bồ Tát trong tư thế nam nữ giao hợp, người Tây Tạng gọi là tư thế phụ-mẫu (Yab-Yum).

 

2. Phương pháp tu tập thiền định theo tả phái Mật giáo có mục đích nhấn mạnh đến khía cạnh ghê tởm đáng sợ của thế gian và vũ trụ là để loại trừ tính chất vị kỷ trong con người, và cũng để dễ dàng tiến đến hợp nhất toàn diện với nguyên lý thần thánh. Hơn nữa đó cũng là mục tiêu để tẩy sạch, xóa bỏ toàn diện triệt để những nhân tố tạo thành lòng vị kỷ chẳng hạn như đam mê và dục vọng. Tập trung tinh thần và tư duy vào lòng vị kỷ, từ đó đạt đến trạng thái vô ngã, ở mức độ nào đó có thể giải thích về hình dạng những vị thần phẫn nộ, hung bạo, và đó cũng là biểu hiện những cố gắng của những người theo trường phái Du Già Hành trong việc trừ bỏ dục vọng và đam mê. Tiến Sĩ P.H Pott đã giải thích vấn đề này như sau:

 

“Khái niệm hủy hoại thường hay làm chúng ta liên tưởng đến nghĩa trang là nơi mà thân thể sẽ bị rửa nát ra. Do đó và cũng là lý do tả phái Mật giáo thường lựa chọn mộ địa làm nơi để hành lễ. Chính địa điểm tạo bầu không khí thôi thúc cổ vũ cho buổi hành lễ.” (1)

 

Về phương diện thần bí, mộ địa có thể xem như là nơi nối kết lần cuối giữa con người và thế gian.

 

3. Chúng ta cần phải khảo sát những cuộc tranh luận trong ý hướng muốn hợp thức hoá những hành vi không đứng đắn. Chắc hẳn không có một ai kỳ vọng hay ủng hộ cho người tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào làm hành động “hằng ngày giao hợp với thiếu nữ mười hai tuổi thuộc bộ tộc Candala” (2) như một loại nghĩa vụ thần thánh. ‘Bí Mật Tập Hội Kinh’ (guhyasamaja-tantra) là một trong những thánh điển đầu tiên, có sớm nhất của tả phái Mật giáo cho thấy chủ trương đối nghịch lại giáo lý khắc khổ, cấm dục của Phật giáo. Bộ kinh này giảng rằng con người chắc chắn dễ dàng thành Phật nếu để cho những cơ năng thỏa mãn những đòi hỏi. Sự tu khổ hạnh, cấm dục không thể thành Phật, vậy thì nên để thỏa mãn mọi dục vọng mà thành Phật. (3) Chính những hành vi mang tính chất thường bị cấm kỵ ẩn chứa trong đó tính chất huyền bí, vượt lên trên những quy ước xã hội có sức hấp dẫn kỳ lạ đến với tín đồ theo trường phái này. Họ phủ nhận những giới luật về thức ăn áp đặt lên người tu khổ hạnh. Họ chủ trương ăn đủ loại thịt như thịt voi, thịt ngựa và thịt chó, và trộn lẫn thức ăn, nước uống với phẩn thú vật, nước tiểu và thịt. Chính vì thế không lấy gì làm lạ khi người ta gọi giáo lý này là thác loạn, rời xa chánh đạo của con người.

 

Với những ai nghiên cứu về tâm lý chủ nghĩa huyền bí tất sẽ hiểu tường tận mục đích của giáo lý này. Điều mong muốn ở đây là chủ đích đưa những giác quan tiếp xúc với những đối tượng và tạo kích thích nơi các cơ năng cảm xúc bằng cách hoặc tạo sự quan tâm mạnh, hoặc gây cảm giác kinh tởm, ghê ghét. Mặt khác chúng ta chỉ có thể nhận thức cảm nhận tính chất hư ảo, tương đối những thú vui xác thịt, khi tự chính chúng ta phơi bày trần truồng cơ năng sinh dục ra ngoài. Trong khi đó những thánh Ki tô giáo để vượt qua những cảm giác kinh sợ về những vật kinh tởm bằng cách bỏ chúng vào trong mồm. Những hành vi như thế thực chất giống như tinh thần tu khổ hạnh, cấm dục chủ nghĩa. Hơn nữa cũng có thể nhận thấy hình nhi thượng của Phật giáo đại thừa có cùng kết luận như trên với phương cách dễ hiểu tốt đẹp. Có nghĩa là thế gian và niết bàn là một. Đam mê cũng không tồn tại bên ngoài niết bàn, ‘đam mê cũng giống như niết bàn (4). Cả hai trường phái Mật giáo đều đồng ý trên quan điểm này.


Hữu phái Mật giáo chủ trương những đam mê cần phải thăng hoa, thanh lọc trước khi chấp cánh bay đến giác ngộ thành chánh quả. Họ xem rằng tình yêu thuộc về xác thịt cảm giác, tình yêu vị kỷ, tình yêu đàn bà, vật chất của cải thế gian là chính đáng, hợp lý vì đó chính là điểm xuất phát cho tình yêu lớn hơn bao trùm lên trên tất cả. Do đó không cần phải đè nén đam mê, nhưng lên chuyển hóa nó và làm cho nó hướng thượng và thăng hoa. Trong khi đó tả phái Mật giáo tin rằng những hình thái đam mê trần tục không cần phải thanh lọc đi nữa vẫn có thể là phương tiện đưa con người đến giải thoát. Theo tôi, chúng ta phải nhận rằng tính chất phản đối về những hành vi tu tập không theo quy luật xã hội đứng trên danh nghĩa tôn giáo, nó không còn ý nghĩa tôn giáo nữa, nó mang tính chất xã hội nhiều hơn. Rất có thể những nhà tu hành theo tả phái tinh thần hướng thượng, cũng là điều đáng buồn, chắc chắn là họ không nhận được sự tôn kính, có lẽ là không mong muốn điều này không chừng. Để hiểu rõ điều này hơn, chúng ta cần phải nhận thức rằng tôn giáo có thể tồn tại hoặc dưới hình thái cực kỳ cá nhân chủ nghĩa hay là dưới hình thái đoàn thể có cơ chế tổ chức rõ ràng. Tôn giáo được tổ chức hóa thì giáo lý và phương pháp tu tập hầu như không có mâu thuẫn với đạo đức xã hội thông thường. Trong khi đó những theo chủ nghĩa thần bí có tính chất cá nhân cho rằng không có lý do gì bắt buộc tôn giáo và đạo đức phải ràng buộc, đi đôi với nhau. Đạo đức thông thường của những con người bình thường chẳng qua dựa trên ít nhiều những cấm kỵ của quy luật xã hội, chẳng hạn họ sợ bị xã hội cô lập. Tuy nhiên người theo chủ nghĩa thần bí lại bảo rằng chính những cái cấm kỵ, huyền bí đó là cơ sở nuôi dưỡng lý tưởng đưa đến giải thoát tinh thần. Nếu còn trong tâm trạng sợ hãi bị chi phối bởi những cấm kỵ mang tính chất quy luật xã hội, hành giả không thể nào đạt đến ‘trạng thái tự do’ tuyệt đối mà họ muốn đạt đến. Trong giai đoạn phát triển tinh thần, hành giả còn cảm thấy bị trói buộc bởi những quy luật đạo đức xã hội, họ có thể cảm nhận ra rằng từ bỏ những ràng buộc, sống cuộc sống độc lập không còn sự đùm bọc, che chở của bộ tộc nữa là điều rất bổ ích. Chính cuộc nổi loạn chống lại câu thúc, kiềm chế bởi quy luật xã hội được gọi là chủ nghĩa phế bỏ quy luật đạo đức xã hội (anti-nomianism)(5). Điều này xuất hiện trong suốt mọi thời đại và ở mọi tôn giáo, với Phật giáo nó không chỉ giới hạn ở Mật giáo, mà chúng ta còn thấy ở cả Tịnh Độ Tông lẫn Thiền Tông. Vì vậy có lẽ hành vi phi đạo đức là giai đoạn chuyển tiếp quá độ cần thiết trước khi để đạt đến trạng thái ‘không còn cái gọi là đạo đức’ nữa. Chúng ta cũng có thể tìm thấy quan niệm giống hệt như tư tưởng ‘không còn cái gọi là đạo đức’ của người Phật giáo được Ruysbroek (6) mô tả về ‘Tinh thần tự do của những tín đồ’ trong đoạn văn sau:

 

“ Một cách cực đoan mà nói, từ khi họ có ý muốn làm điều đạo đức, làm theo ý chí cao cả của thượng đế, anh ta vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn, dường như còn bị ám ảnh để mong đạt lấy điều gì đó. Do đó họ nẩy ra ý nghĩ họ không thể tin vào những điều đức hạnh, hay tạo dựng công đức, hay phạm tội. Kết quả là họ thỏa mãn với những dục vọng có thể nói thấp kém, bởi vì họ đang ở trong trạng thái đảo nghịch lại những gì gọi là trong sạch, và luật pháp không còn ý nghĩa gì với họ nữa. Họ cho rằng tự do thực sự chỉ có khi không còn kiềm chế bởi giới luật hay hành vi thánh thiện. Tự do theo tình dục và buông thả cho thể xác những gì thể xác muốn. Đối với họ cái gọi là thiêng liêng thần thánh cao cả nhất trong con người là không còn sự cưỡng ép và để tất cả đi theo bản năng tự nhiên, vì thế buông xuôi thân xác để cho nó đi theo những kích thích và làm thoả mãn những đòi hỏi của thân xác. 

 

Chú thích:

(1) Đoạn này trích từ tác phẩm “Yoga en Tantra” xuất bản năm 1946, trang 159, do P.H Pott viết.

(2) Trích từ Guhyasamaja Tantra , trang 94.

(3) Trích từ “Nhất Thiết Như Lai Kim Cương Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương Kinh” quyển thứ hai, Đại Tạng Kinh quyển thứ 18, trang 475.

(4) Trích từ “Đại Thừa Tạp Bồ Tát Học Luận” quyển 16, Đại Tạng Kinh quyển 32, trang 121. 

(5) Danh từ anti-nomianism được người Ki tô giáo dùng vào thế kỷ 19, 20 với quan niệm cho rằng nhiệm vụ tín đồ Ki tô giáo không thể bị giới hạn trong sự phục tùng theo luật đạo đức hay bất cứ bộ luật nào. Trong ý nghĩa rộng hơn nói lên quan niệm thừa nhận tính chất chính đáng của niềm tin hơn là tuân theo hay phục tùng bất cứ luật lệ nào.

(6) Jan Van Ruysbroek (1293 – 1381) là một tu sĩ Ki tô giáo người gốc Bỉ, theo tư tưởng thần bí, viết nhiều tác phẩm về chủ nghĩa thần bí.

 

Chế ngự nhục thể

 

Rất dễ đưa đến ngộ nhận, nếu nhấn mạnh quá nhiều về tính chất dị biệt giữa giáo lý Mật giáo và giáo lý Phật giáo cổ truyền. Có một điểm rõ ràng và nổi bật nhất, tất cả những trường phái Mật giáo đều duy trì trung thực tinh thần Phật giáo cổ truyền. Tương tự như mọi tông phái khác tuy rằng có ít nhiều khác nhau trong phương cách tu tập, Mật giáo luôn luôn xem thân thể như đối tượng chính trong mọi nỗ lực tu hành. Chúng ta cũng đã đề cập ở phần trước (chương thứ bốn, nói về giới) tập trung tâm trí trui luyện thân thể là điểm cốt lõi trong việc tu hành Phật đạo. 

 

Có câu chuyện được truyền lại, Xá Lợi Phất chuyển sang theo Phật giáo là do phong cách uy nghiêm của nhà sư. Một phần đời sống lang bạt không nhà, thiếu thốn vật chất bắt buộc người tu sĩ phải để ý rất nhiều đến thân thể, như Phật đã nói với Xá Lợi Phất, một tu sĩ phải có khả năng chịu đựng cái lạnh, cái nóng, cơn đói, không được sợ ruồi muỗi, rắn, hay những cuộc tấn công từ người hay dã thú, không được bày tỏ nỗi bất bình về nơi ăn hay chỗ ngủ. Để ý đến thân thể là công việc tối thiểu hằng ngày trong tĩnh lặng của đời sống tu hành Phật đạo, không bị ảnh hưởng do những thảo luận về giáo lý, triệt để ngăn cấm và không để ý đến những tiện nghi cho xác thịt. Người tu sĩ phải luôn luôn để tâm ý vào những vận động cơ bắp trên thân thể, chẳng hạn như luôn để ý đến mọi việc làm của thân thể khi đi, đứng, ngồi, nằm v.v.. Hành giả phải luôn để ý nhịp thở kiểm soát buồng phổi và hệ thống hô hấp. Hành giả cũng cần phải chiến đấu với hệ thống tiêu hóa bằng cách tuyệt thực, bằng quy luật không dùng cơm sau giờ ngọ, bằng cách tham thiền suy tưởng về những phiền toái, kinh tởm do ăn uống gây ra. Như đã trình bày ở phần trước, hành giả phải nghiêm túc để ý đến mọi cơ năng cảm giác. Chế ngự và khắc phục thân xác là yếu tố cơ bản cho đời sống tinh thần. Đồng thời cho dù thân xác là gánh nặng nhưng không được coi thường. Như đã đề cập qua trong phần Thiền định, cảnh giới tham thiền nhập định cao nhất đạt đến phải xuyên qua thể xác. Cảnh giới tham thiền nhập định cao nhất mang đến niềm hoan lạc tối thượng và thanh tịnh hoàn toàn, bởi vì mọi ý tưởng phân biệt không còn nữa, để đạt đến trạng thái này cũng phải đi qua thân thể. Trong kinh có nói “để tiếp cận đến pháp bất diệt cần phải dùng thân xác của bản ngã”(1).


Bất cứ những ai đã ngồi thiền định đều phải nhận thấy rằng thân thể yếu đuối và những lo âu làm cản trở không ít trong việc ngồi thiền định liên tục. Theo kinh Vô Lượng Thọ (Sukhavativyuha) giảng rằng thân thể những vật hữu tình sống ở cõi tịnh độ của Vô Lượng Quang Phật thì “mạnh như kim cương của Narayana.”(2) Mật giáo thâu nhận tư tưởng này và đem vào trong phương pháp tu tập thiền định, có nghĩa qua phương pháp tu luyện này chuyển hoán xác thân phàm tục thành Kim Cương thân(diamond body), trở thành bánh xe phù hợp cho cuộc hành trình tinh thần, làm cho nhục thân trở lên thuần thục, mạnh mẽ đủ sức chịu đựng được những căng thẳng đè nặng của công việc tinh thần. Liên quan đến vấn đề này, những nhà nghiên cứu nổi tiếng sinh lý học về Hathayoga (3) đã công nhận và tin tưởng rằng trong thân thể con người bao gồm vô số hệ thần kinh, hay những mạch máu (nadi), và bốn trung khu của sự sống được gọi là mạng lưới thần kinh (cakra) hay liên hoa (padma) đưa dẫn sức mạnh siêu nhiên đi khắp toàn thân. Trong số đó trung khu nằm vị trí thấp nhất ở phần dưới của bụng, trung khu khác thứ hai nằm ở tim, trung khu thứ ba nằm ở dưới cổ, và trung khu thứ tư nằm trong đầu. Trong số vô số sợi thần kinh, có ba sợi dây thần kinh quan trọng nhất, hai sợi nằm dọc hai bên tủy xương sống, và một sợi thần kinh nằm ở giữa tủy xương sống. Sợi thần kinh bên trái biểu hiện trí tuệ, bên phải là thiện xảo phương tiện, sợi ở giữa là thống nhất đấng tuyệt đối. Với trợ lực của phương pháp tu tập thần bí, kèm theo sự hướng dẫn bí truyền không thể thiếu được của người thầy, hành giả yoga tổng hợp trí tuệ và thiện xảo phương tiện ở trung khu thần kinh đan điền theo đó phát khởi bồ đề tâm (bodhi-citta). Trạng thái bồ đề tâm từ đan điền di chuyển theo sợi dây thần kinh nằm ở giữa đi lên trung khu thần kinh não cao nhất và tại đây đạt được niềm vui bất động tột cùng. Theo phương pháp tu tập này hệ thống vận động điều tức đóng vai trò rất quan trọng, vì theo những người tu tập cho biết khi điều chỉnh được sự vận hành dòng sinh khí lúc đó có khả năng xác định được dòng sức mạnh siêu nhiên trong hệ thần kinh. Với vài dòng qua ngôn ngữ thông thường mô tả về hathayoga thôi có lẽ gây người đọc có cảm giác ảo tưởng về phương pháp thiền định này, muốn hiểu cho tường tận chắc cần phải viết thêm nhiều trang giấy nữa, phần này xin để độc giả tự tham khảo thêm.

 

Trong bối cảnh này cho thấy Mật giáo quan tâm rất nghiêm túc về thân thể con người, vì chân lý cũng nằm bên trong xác thân, và nẩy sinh ra từ xác thân. Trong Hevajra Tantra, Phật có giảng rằng mặc dù mọi vật là không, nhưng sự hiện hữu của xác thân là cần thiết, bởi vì niềm hạnh phúc tối thượng không thể đạt nếu không có xác thân. Vì chân lý cùng cực tồn tại bên trong xác thân. Saraha, một thi nhân Mật giáo ở vùng Bengal có nói:

Anh ta đang ở trong nhà, nhưng lại đi tìm anh ta ở bên ngoài. Cũng như đang nhìn ông chồng ở trong nhà, mà cứ hỏi người hàng xóm ông chồng ở đâu.”


Cũng như

“Các học giả giải thích mọi kinh điển, nhưng không biết Phật nằm ngay chính bên trong nhục thân.”(4)

 

Đối với người tu tập thiền định Mật giáo cả cuộc đời là việc phấn đấu gian khổ với chính xác thân, vì thế mọi lý luận đều mang tính phụ thuộc không hơn không kém. 

 

Chú thích:

 (1) Trích từ Anguttara-Nikaya III, trang 356; Nam truyền đại tạng kinh quyển thứ 20, trang 105.

(2) Narayana là tên vị thần trong đạo Hindu.

(3) Hathayoga: chữ Ha có nghĩa là mặt trời, và tha có nghĩa là mặt trăng, nói nôm na hatha là hệ thống phối hợp hai nguồn âm dương, vận chuyển năng lượng cung cấp sự sống cho khắp toàn thân. Do đó hathayoga là phương pháp thiền định tổng hợp cách điều tức, cùng với những tư thế, và tuân theo một số giới luật trong đời sống hằng ngày.

(4) Trích từ ‘Obscure religious cult’ do Dasgupta, S viết.

 

(Còn tiếp)

Tùng Sơn


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn