- Đi Tìm Giác Ngộ Qua Việc Hành Xác - Thanh Thủy

07/02/201312:00 SA(Xem: 5353)
- Đi Tìm Giác Ngộ Qua Việc Hành Xác - Thanh Thủy


Thanh Thủy



Dạo này, tôi quan tâm đến tâm linh và hạnh phúc của con người nhiều hơn. Có lẽ, khi người ta bước dần đến tuổi "Tri thiên mệnh" thì lại quay trở về câu hỏi: "Ủa, từ đó giờ mình có hạnh phúc hay không?" Ôi, chữ "hạnh phúc" nghe chừng đơn giản, Vậy mà có biết bao nhiêu người sắp nhắm mắt vẫn thều thào trăn trối: "Cả cuộc đời tôi chưa từng hạnh phúc."

Thật tình, tôi cũng không biết hạnh phúc là gì? Nó trông ra làm sao? Nhưng trong đời tôi cũng có đôi lần sung sướng thật sự, có thể tạm gọi là hạnh phúc (nếu mọi người cùng đồng Ý với tôi rằng: Vui sướng đồng nghĩa với hạnh phúc.)


Tôi đọc sách nghiên cứu về Phật giáo, thấy có nói: "Khi dạt đến cõi Niết Bàn, thì con người sẽ đạt được niềm hạnh phúc thật sự, Viên mãn." Cõi Niết Bàn như thế nào thì tôi chưa từng biết, mà cũng chẳng quen ai đã đạt được tới cõi đó, để hỏi họ nó ra làm sao. Nhưng khi nghe chữ "hạnh phúc viên mãn" thì tôi tò mò và ham lắm. Thu' thật, tôi cũng chỉ là người trần mắt thịt, lục trần sáu căn có đủ, hỉ nộ ái ố chưa dẹp xong, nên lòng tham còn nhiều. Nghe được hạnh phúc viên mãn ai mà không ham, phải không thưa quí vị?


Tình cờ, một người bạn chuyển đến tôi bài viết mô tả về một cách ướp xác của các nhà sư Nhật bản Vào khoảng thế kỶ thứ chín sau công nguyên. Tôi đọc và hết sức khâm phục sự can đảm đi tìm cõi Niết Bàn của các nhà sư qua quá trình ướp xác của họ để lại cho hậu thế. Nó như là một chứng tích làm bằng cho quá trình hóa thân thành Phật của các nhà sư. 


Câu chuyện bắt đầu từ đất nước Nhật Bản:


Người “phát minh” ra thuật tự ướp xác nối tiếng khắp xứ sở mặt trời mọc chính là nhà sư Kukai sống vào khoảng thế kỉ thứ 9, là người đã sáng lập ra dòng tu bí truyền Shingon trong đạo Phật, dòng tu đã đưa ra các thuyết về sự giác ngộ thông qua việc hành xác. Nhà sư này muốn tìm sự giác ngộ thông qua việc hành xác. Ngài đã đưa ra một nguyên lý: "Tôi chịu đau khổ để bạn được sống."

Để tiến đến sự giác ngộ viên mãn, các nhà sư tu theo nguyên lý này sẽ bắt đầu cuộc ướp xác bằng sự hành xác kéo dài trong ba ngàn ngày, và chia ra làm ba giai đoạn chính. Mấu chốt là giúp các nhà sư loại bỏ dần lượng mỡ, thịt trong người cho đến lúc nhịn ăn, uống một cách tuyệt đối. Ba giai đoạn được mô tả như sau:


Giai đoạn một: kéo dài trong một ngàn ngày. Để nhằm loại bỏ lượng thịt, mỡ trong cơ thể, các nhà sư chỉ được phép ăn các loại củ, hạt, quả dại được hái gần nơi các vị sư ở, tiến hành quá trình ướp Xác. Họ phải tuYệt đối tuân thủ quá trình giảm thịt mỡ này, Vì họ tin rằng chính những lượng thịt mỡ có trong cơ thể là nguyên nhân gây nên sự phân hủy của cơ thể. Trong quá trình ăn kiêng đó, các Vị sư vẫn sinh hoạt bình thường, thậm chí họ có lúc phải hoạt động mạnh để dùng năng lượng tích trữ trong cơ thể tiêu hao dần lượng thịt mỡ dư thừa.

Giai đoạn hai: làm mất dần lượng nước trong cơ thể, kéo dài một ngàn ngày nữa. Trong giai đoạn này, các nhà sư giảm dần lượng nước vào cơ thể đến mức thấp nhất. Thay vì ăn các loai rau củ như lúc đầu, Vào giai đoạn này, các vị sư chỉ được phép ăn các loại rễ cây, Vỏ cây các loại. lượng nước trong người họ dần dần vắt cạn, cho đến khi họ trông như những bộ xương khô.

Giai đoạn ba: Đây là giai đoạn cuối nhưng là giai đoạn khó khăn nhất. Giai đoạn này kéo dài trong suốt một ngàn ngày, được gọi là giai đoạn "tẩm độc". Hàng ngày những nhà sư sẽ uống một loại chè được chế từ nhựa cây dầu bóng, loại cây vẫn được dùng để sản xuất vecni dùng trong công nghiệp đồ gỗ. Đây là một loại trà độc gây nôn mửa, buồn tiểu và nhanh chóng gây mất nước trong cơ thể. Bằng việc uống loại trà này, lượng nước ít ỏi còn sót lại trong cơ thể những nhà sư sẽ bị đẩy ra bằng sạch.


Đồng thời, với việc uống trà độc liên tục trong cả nghìn ngày, sẽ khiến các chất độc ngấm sâu vào khắp các cơ quan trong cơ thể, tạo thành một cơ thể chứa đầy chất độc khiến những loại sâu bọ và côn trùng muốn phá hoại xác người phải tránh xa. Và, cũng chính nhờ đó mà các xác ướp được bảo quản nguyên vẹn. Sau khi kết thúc quá trình “hành xác” kéo dài đúng 3.000 ngày, những nhà sư sẽ tự giam mình trong một ngôi mộ được làm bằng đá nguyên khối. Thông thường trước khi vào mộ, họ được phép mang những vật dụng cá nhân của mình để chôn cùng.


Một khoảng không gian nhỏ được đẽo bên trong phiến đá chỉ đủ chỗ cho nhà sư ngồi bất động theo tư thế thiền hoa sen. Sau khi nhà sư bước vào ngôi mộ đá, cánh cửa mộ sẽ bị bịt kín lại, chỉ để hở một lỗ nhỏ cho không khí lưu thông.

Mỗi ngày nhà sư sẽ rung chiếc chuông mà ông mang theo vào trong mộ một lần để báo với thế giới bên ngoài rằng mình vẫn còn sống. Nếu một ngày những vị sư khác trong chùa không còn nghe tiếng chuông rung lên nữa thì lúc đó họ biết rằng nhà sư đã qua đời. Khi ấy họ sẽ đến bịt ống thông khí lại và tiếp tục chờ đợi thêm 1.000 ngày nữa trước khi bật nắp mộ ra để kiểm tra xem việc ướp xác thành công hay không.

Nếu như sau khi nắp mộ được mở ra và thấy trong ngôi mộ là một xác ướp nguyên vẹn, nhà sư đó lập tức được phong thành Phật và được đưa về chùa để thờ cúng.


Thú thật đọc xong quá trình tìm đến giác ngộ của các nhà sư Nhật Bản tôi không khỏi rùng mình, khâm phục sự can đảm và lòng tin vào sự giác ngộ của các ngài. Nhưng cái mà tôi phải cúi mình sát đất để cảm phục các vị sư: đó là quá trình gian khổ ba ngàn ngày mà quí ngài đã phải chịu đựng trước khi đạt được danh hiệu Phật, đạt đến cõi Niết Bàn, đến hạnh phúc viên mãn.


Vẫn biết cái gì cùng có cái giá của nó. Mục đích càng cao, giá phải trả càng lớn. Để đạt đến bến bờ giác ngộ, ngay cả Đức Phật Thích Ca còn phải trải đến ba A Tăng tì kiếp (hàng triệu triệu kiếp sống). Hẳn Ngài đã trải qua không biết bao nhiêu lần luân hồi. Bao nhiêu lần chết đi, rồi lại sống. Và cứ mỗi kiếp sống như vậy, bao nhiêu nghiệp phải trả, bao nhiêu phước phải tạo ra...Cuộc sống cứ luân phiên đến đi, chỉ để nhằm giảm nghiệp tạo phước cho đến ngày nghiệp được tiêu trừ sạch sẽ.


Kinh sách kể rằng trong những ngày tu hành khổ hạnh. Đức Thích Ca Mâu Ni đã áp dụng không biết bao nhiêu cách tu hành để nhằm tìm con đường đi đến giác ngộ cho nhân loại. Ngài đã từng ap dụng những cách tu khổ hạnh triệt để từ nhịn ăn đến mức thậm chí ăn phân loài vật để thanh lọc cơ thể, tránh tạo nghiệp sát sanh. Ngài đã gần như mất mạng vì lối tu khổ hạnh như. Vậy, nhưng vẫn cảm thấy đó chưa phải là con đường giải thoát của con người. Nhưng Ngài nhận ra một điều: lối tu ép xác ấy rõ ràng không giúp cho tâm con người cảm thấy sự hạnh phúc, hài lòng, viên mãn. Mà trái lại, nó làm cho con người bị cùn nhụt ý chí, bị lơi lỏng niềm tin bởi thân thể bị đầy ải quá mức. Thân bị bào mòn, khốn khổ, đói khát thì làm sao tâm có thể nhẹ nhàng, bình an, Viên mãn cho được. Nhận ra điều đó, Ngài đổi cách tu bằng cách chăm sóc cơ thể Vừa đủ, không để nó đói khát, bệnh tật, nóng lạnh thất thường. Khi thân thể Ngài khỏe mạnh đủ, Ngài cảm nhận được sự sung mãn tràn trề trong cơ thể, cũng như trong tâm hồn. Khi thân thể thôi hành hạ Ngài bằng những cảm xúc của lục giác, Ngài tập trung suy nghĩ vào thế giới quanh mình. Những giờ phút thiền mặc dưới cội Bồ Đề, hay thiền hành quanh những gốc cây to trong rừng suốt bốn mươi tám ngày, Ngài đã tìm ra chìa khóa để mở cánh cửa GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT. Và con đường Trung Đạo là con đường giải thoát mở tung được mọi Xiềng Xích đã gông cùm đời người từ hằng hà sa số kiếp. Một trong những chìa khóa ấy là phải luôn giữ cho cả THÂN và TÂM cùng an lạc, luôn ở cùng nhau trong từng sát na, thì mới con người mới thật sự bước vào con dường gải thoát và giác ngộ.


Trở lại con đường Tu của các nhà sư Nhật Bản. Đọc qua ba ngàn ngày ép xác của các Ngài để có được bộ xác ướp nguyên vẹn, để dược người đời phong thành Phật, ai cũng không khỏi rùng mình Vì sự ép xác, khổ hạnh đến mức khó tưởng tượng sức người có thể chịu đựng được. Tự dưng, tôi lại suy nghĩ và đặt câu hỏi cho mình: "Cái lối tu ép xác chịu đau khổ thay cho loài người ấy, liệu có đúng với con đường tu trung đạo mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã đi qua không?" Rồi tôi cũng tự hỏi: Trong những lúc đang hành xác như vậy, chịu trăm ngàn thử thách đau đớn Về thể xác, liệu tâm các vị sư ấy có thể an lạc nổi không?


Thêm nữa, khi bước vào công cuộc ép xác kinh khủng như vậy, chắc hẳn những vị sư ấy đã biết được rằng: nếu để lại một xác ướp nguyên vẹn thì mới được xem là đạt đến danh hiệu Phật, một bậc chánh đẳng chánh giác. Còn không thì xem như các vị ấy chưa đạt thành chánh quả. Vậy điều đó có trái lại với lời dạy của bậc Cồ Đàm khi xưa: đạt đến quả vị Phật là đạt đến chỗ không cùng, dến chỗ hòa mình vào vũ trụ, đến chỗ sự bao la của vũ trụ Và tâm Phật là một. Không còn tồn tại một hình hài riêng biệt nào.


Vậy thì, chỉ một cái xác ướp để lại trần gian, dù nguyên vẹn đến đâu đi nữa, há lại là hình ảnh một Vị Phật với tâm rộng đến chỗ không cùng khắp tam thiên, đại thiên thế giới? Hay đó chỉ là hình ảnh của một vị Phật được xác định từ những lục trần, sáu căn của con người?

Càng nghĩ tôi càng không tìm ra câu trả lời dứt khoát.

 

 Cali ngày 12/26/2012

  Thanh Thủy.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn