- Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển - Tùng Sơn

06/02/201312:00 SA(Xem: 5231)
- Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển - Tùng Sơn

Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển

(Buddhism its essence & development)

Tác giả: Edward Conze

  Tùng Sơn dịch


Quan niệm về Phật theo Mật giáo

 

Ngay từ khởi thủy Phật giáo đã giải thích con người như một thực thể tổng hợp của ngũ uẩn. Khi sang đến Mật giáo thì khái niệm này được áp dụng ngay vào chính Đức Phật, và Mật giáo cho rằng Phật là kết hợp của ngũ uẩn. Nói cách khác chính ngũ uẩn là Phật. Theo những tư liệu Âu Châu, những vị Phật này thường được gọi là Phật Nhập Định (Dhyani Buddhas), danh từ này được Hodgson (1) mang vào và xử dụng cách đây khoảng một thế kỷ, tuy nhiên danh từ này không chỉ nhầm lẫn về tiếng Phạn, mà nó không hề thấy trong bất cứ kinh điển Mật giáo. Đến lúc cần phải bỏ danh từ này đi. Trong những kinh điển Mật giáo thường nói về ‘năm vị Phật’ hay ‘năm vị Jinas’.  Jina có nghĩa người chiến thắng, người chinh phục, là danh xưng gọi Đức Phật thời cổ xưa, nguồn gốc hàm ý người chinh phục được ham muốn, dục vọng. Người Tây Tạng thường đề cập đến năm vị Như Lai, và tôi theo cách dùng này. Năm vị Như Lai đó là Đại Nhật Như Lai (Vairocana), A Súc Phật (Akshobhya), Bảo Sinh Phật (Ratna Sambhava), A Di Đà Phật (Amitabha), và Bất Không Thành Tựu Phật (Amoghasiddhi). Năm vị Phật này được đưa vào Phật giáo vào khoảng năm 750 sau kỷ nguyên, là những vị Phật khác biệt hoàn toàn với tất cả những vị Phật có từ trước đến nay. Tất cả những vị Phật mà chúng ta được biết đến từ trước khi Mật giáo ra đời, khởi đầu là con người hay động vật rồi xuyên qua tu tập, thanh tịnh hóa hằng vô số kiếp, tích lũy công đức dần dần trở thành Phật. Trái lại, năm vị Phật ở Mật giáo từ khởi đầu đã là Phật, và không là một cái gì khác.

 

Với tiền đề năm vị Phật cấu tạo thành thân thể vũ trụ. Thêm vào đó, Mật giáo đưa ra một hệ thống với cấu trúc mỗi vị Phật ‘tương ứng’ một cách thần bí với mỗi thành phần cấu tạo nên vũ trụ, và mỗi vị đảm trách mỗi công việc trong hệ thống. Theo đó năm yếu tố tương ứng với năm vị Phật, năm thức, năm cảnh giới, năm phương vị chính yếu (vị trí thứ năm thường nằm ở trung tâm). Cùng theo đó tương ứng với mẫu chữ Phạn, bộ phận của thân thể, với những loại sự sống, màu sắc, âm thanh, v.v..vẫn chưa hết, mỗi vị Phật trên cõi trời là phản ảnh bằng mỗi vị Bồ Tát trên cõi trời, là hình ảnh mỗi vị Phật với hình dạng con người, là kết tụ bằng lực nữ tính gọi là Shakti. Hơn nữa Mật giáo đưa ra hệ tư tưởng mỗi vị Phật xem như ‘gia trưởng’ trông nom toàn thể ‘gia tộc thần bí’, trên nguyên tắc theo hệ tư tưởng này - mỗi vị Phật của năm vị Phật có chức năng tổng hợp tất cả chư Phật, thần thánh thuộc về thế giới của mỗi vị Phật.

 

Hệ thống năm vị Phật có ảnh hưởng rất lớn lao, nhưng không phải là hệ tư tưởng duy nhất quan niệm về Phật trong Mật giáo. Chính bởi vì Phật giáo chủ trương con người được cấu tạo bởi ngũ uẩn, vả lại không hẳn thừa nhận một nguyên lý thống nhất bao trùm lên trên tư tưởng ngũ uẩn, do đó quan niệm thâu tóm toàn thể yếu tố cùng cực tạo thành vũ trụ vào năm vị Như Lai phải chăng làm thỏa mãn nhu cầu mang tính chất lý luận cho đại đa số tín đồ Phật giáo. Tuy nhiên vào khoảng năm 800 sau kỷ nguyên trở về sau này, một tư tưởng xuất hiện ra đời ở nhiều nơi dưới nhiều hình thái dẫn chứng rằng năm vị Như Lai bắt nguồn từ vị Phật đầu tiên, được gọi là Phật Nguyên Thủy (Adi-Buddha), chính vị Phật này là nguyên lý sinh mạng duy nhất tiếp tục trường tồn vĩnh viễn cho toàn thể vũ trụ.

 

Tư tưởng truyền thừa liên quan đến vị Phật Nguyên Thủy vẫn còn được xem như một phần bí mật đặc biệt của giáo lý Mật giáo, hiện tại chúng ta không ở trong vị thế phân tách phân biệt những khác biệt giữa tư tưởng của các trường phái. Nhiều trường phái Mật giáo chọn một trong năm vị Phật, Đại Nhật Như lại thường được thừa nhận như vị Phật chính. Có trường phái đưa vào vị Phật thứ sáu, là vị Phật trông coi tất cả. Vị Phật thứ sáu này đôi khi được gọi là Đại Nhật Như Lai (Mahavairocana), hoặc là Trì Kim Cương (Vajradhara), đôi khi cũng được gọi là Phật Nguyên Thủy.

 

Cũng chính tại thời điểm này, Phật giáo cuối cùng đi ngược lại hoàn toàn giáo lý lúc ban đầu, và chuẩn bị cho con đường suy thoái. Hình thái tư tưởng này rõ ràng có khuynh hướng đi về nhất thần luận. Như đã trình bày ở những chương trước, tư tưởng căn bản Phật giáo không phải phân tích, giải thích nguyên nhân khởi nguồn của thế giới mà là chạy trốn thế giới này. Cho đến nay vấn đề liên quan đến nguồn gốc nẩy sinh ra vũ trụ, con người tự thoả mãn và cho nó cái tên là vô minh, không có thần thánh. Người theo trường phái Du Già hành đầu tiên tạo dựng một hệ thống tư tưởng tổng hợp cực kỳ phức tạp, theo đó lập luận rằng vô minh là nguyên nhân tạo dựng hình tướng ngoại vật trên thế gian, và “A Lại Da Thức” là bản chất căn nguyên tạo lên sự hiển hiện của vũ trụ.


Vào khoảng 500 năm sau đó, tức vào khoảng năm 950, một số học giả Mật giáo sinh sống gần vùng Jaxartes (2) đi đến nhận định thuyết khởi nguồn vũ trụ rất gần với quan niệm Nhất Thần Luận, được xem như nòng cốt tinh tủy giáo lý Phật giáo.

 

Trải qua nhiều thế kỷ trường phái Du Già hành mô tả chân lý cùng cực như là “Như Lai Tạng” (4). Trường phái này thuyết giảng rằng thế gian phát sinh từ Như Lai Tạng. Công việc tạo dựng thuyết sáng tạo vũ trụ có thể xem như sáng tạo cuối cùng trong những dòng tư tưởng của Phật giáo. Một khi tư tưởng triển khai đến giai đoạn này rồi, Phật giáo không thể làm gì khác hơn là dung hợp với những tôn giáo theo Nhất Thần giáo ở trên thế giới.


Chú thích:

(1) Hodgson (1800 – 1894) một học giả Đông Phương người Anh Quốc, cũng là nhà ngoại giao, người đầu tiên giảng truyền thánh điển Phật giáo bằng tiếng Phạn sang Âu châu.

(2) Jaxartes còn có tên là Syrdarya, một dòng sông thuộc trung tâm Á Châu, chạy xuyên qua Kazakhstan, Tajikistan, Uzbekistan, Đại Đế Alexander tìm ra dòng sông này vào năm 329 trước kỷ nguyên trong cuộc chinh phạt vùng Trung Á Châu.

(3) Kalacakra dịch sang âm hán gọi là Thời Luân có nghĩa là thế giới ảo vọng còn bị chi phối bởi ba quan niệm về thời gian là quá khứ, hiện tại và tương lai, theo trường phái này Phật Nguyên Thủy là đấng sáng tạo ra vũ trụ.

(4) Như Lai Tạng (Tathagata-garbha) cũng có nghĩa như Phật tính tiềm ẩn trong tất cả mọi sự sống.

 


Tả Phái Mật Giáo

 

Xuyên qua những nghiên cứu về lịch sử Mật giáo, chúng ta nhận thấy có sự khác biệt giữa tả phái Mật giáo và hữu phái Mật giáo (xem phần lịch sử Mật giáo). Những nét đặc biệt của tả phái Mật giáo gồm có:

  1. Tôn thờ tính lực (Shaktis), có nghĩa sùng bái nữ thần trong tư thế nữ thần kết hợp cùng nam thần và ôm bọc lẫn nhau, và cho đó là nguồn gốc phát sinh sự sống.
  2. Tôn thờ thần phẫn nộ, nổi giận (Bhairava), kèm theo rất nhiều ác qủy và những thần làm khiếp sợ cùng với những nghi thức phức tạp liên quan đến mộ địa.
  3. Phương pháp tu tập mang đến giải thoát và một số hình thức không theo tiêu chuẩn ‘đạo đức’.

 

Phương cách tu tập theo tả phái Mật giáo gặp sự chống đối mãnh liệt từ những người bên ngoài về mặt đạo đức, và cũng chính vì thái độ phẫn nộ đã ngăn trở họ hiểu rõ ràng về trường phái này. Dù sao sức sống trường phái này đã làm mọi người ngạc nhiên, sau qua bao nhiêu thế kỷ tả phái Mật giáo vẫn còn tiếp tục duy trì sức mạnh rất quan trọng trên phương diện lịch sử tư tưởng tôn giáo Đông phương. Do đó chúng ta cần phải nỗ lực tìm hiểu đúng đắn ba tính chất nổi bật của tả phái Mật giáo.

 

1. Giáo lý Phật giáo cổ xưa là hệ thống tư duy nam tính rất ư nghiêm khắc, và cũng chỉ chấp nhận vài nữ thần có tính chất phụ thuộc. Theo giáo lý này những vị thần ở cấp độ cao không còn phân biệt nam hay nữ, vì tất cả đều sống, cư ngụ ở nước Phật. Tuy nhiên nữ giới còn gặp nhiều chướng ngại để đạt đến đỉnh cao nhất của tinh thần, và để thành Phật đạo.

 

Khởi đầu Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita) và Tara là những vị thần Phật giáo đứng biệt lập. Tôn thờ thần Tara ở Phật giáo có lẽ vào khoảng 150 năm trước kỷ nguyên. Chữ Tara do từ tiếng Phạn Tarayati nguồn ngữ có nghĩa là độ trì, là nữ thần cứu thế trợ giúp chúng ta đi sang bờ bên kia, diệt trừ mọi bất an, sợ hãi, và ban cho thành tựu mọi ước nguyện. Tara là sản phẩm sáng tạo tâm linh của quần chúng. Trong khi đó Bát nhã ba la mật đa (Prajnaparamita) phát sinh từ nhóm nhỏ những nhà tu hành khổ hạnh. Ở Đại thừa thời đó Bát Nhã Ba La Mật Đa không chỉ có nghĩa là đức hạnh, thánh kinh, thần chú mà còn có nghĩa là vị thần. Từ đó việc nhân cách hóa trí tuệ siêu việt dường như bắt đầu vào khoảng đầu kỷ nguyên. Trong “kinh Bát Nhã”, trí tuệ được giảng như “người mẹ của chư Phật”. Vậy thì câu này mang ý nghĩa gì? Tương tự như đứa bé sinh ra từ người mẹ, sự giác ngộ viên mãn của Phật nẩy sinh từ trí tuệ viên mãn. Có nghĩa nữ thần chỉ bảo chư Phật hay trí tuệ viên mãn về phương cách sống ở thế gian. Trong tinh thần này nguyên lý nữ tính có thể xem như ngang hàng với Phật, có phần nào ở trên Phật. Thật là lý thú cho thấy tính chất đối chọi, kinh Bát Nhã nhấn mạnh đến nguyên lý nữ tính, bắt nguồn từ miền nam Ấn Độ, người dân Dravidian nhận ảnh hưởng quan niệm này vẫn tiếp tục duy trì chế độ mẫu hệ. Trong khi dó người ở miền bắc theo Bà La Môn giáo nhấn mạnh đến nam tính. Hầu hết trong mọi tư tưởng cổ điển chúng ta đều tìm thấy khái niệm nguyên lý vừa biểu hiện cho cả trí tuệ lẫn nữ tính, và đồng thời phối hợp quan niệm mẫu tính lẫn đồng trinh. Cùng vào thời kỳ đó ở vùng Địa Trung Hải có thần Sophia được dùng như mẫu tượng cho các thần như Ishtar, Isis, và Athene; Sophia là biểu tượng pha trộn giữa tư tưởng trí tuệ và tư tưởng người mẹ vĩ đại, đặt bên cạnh song song người phái nam vĩ đại. Giống như thần Ishtar và mẹ Mary đồng trinh, Bát Nhã Ba La Mật Đa về căn bản vừa là người mẹ và cũng là người thiếu nữ đồng trinh. Do đó Bát Nhã Ba La Mật Đa là ‘người mẹ của chư Phật’, nói cách khác nữ thần này không phải không sinh con, mà sinh rất nhiều con, kết thành nhiều quả tốt, và đó là hình ảnh nữ thần biểu lộ với lồng ngực căng tròn. Trong khi đó ở mặt khác nữ thần giống như thiếu nữ đồng trinh, ‘còn trong trắng, chưa bị ô nhiễm thế gian’, có rất nhiều kinh điển, văn kiện nhấn mạnh đến tính chất huyền diệu của nữ thần này hơn bất cứ điều gì khác.

 

Một mặt Phật giáo công nhận vị thế quan trọng của nữ tính đối với thế gian, đã nhân cách hoá thành nhiều nữ thần, mặt khác Phật giáo nói chung lại không khích lệ cho lắm khi đề cập thái độ tính dục đến phái nữ, thường tránh né hay nói một cách hời hợt về ý nghĩa tính dục và cả về nguyên lý tương quan giữa nam và nữ giới. Trong khi đó tả phái Mật giáo đem ra bàn luận giải thích công khai những khái niệm xuất phát từ đời sống tính dục tác động đến hiện tượng tinh thần. Có một điều hiển nhiên là về vấn đề tính dục, hầu hết các nhà tâm lý học không giấu diếm cho nó thuộc vào phạm trù kinh nghiệm có tính chất huyền bí. Ngay cả những tư tưởng hình nhi thượng học trừu tượng đi nữa cũng không phải hoàn toàn không có tính chất tính dục trong đó. Ngay cả đến những triết gia thường được xem như lạnh lùng, không còn tính chất tình cảm con người đi nữa cũng đã phải cảm nhận được điều này. Có người hỏi nhà triết gia Immanuel Kant là tại sao ông không lập gia đình. Kant đã trả lời rằng cả cuộc đời ông ta đã có một ‘người yêu’; Người yêu đó là triết học, và ông ta mong muốn trung thành mãi mãi với ‘người yêu’ đó. Tương tự như thế những lời đức Phật nói bộ kinh Bát Nhã chắc hẳn phải biết rằng theo đuổi trí tuệ viên mãn không khác chi tính chất tương quan luyến ái hay tình yêu với đấng tuyệt đối. Thật ra cũng là điều thú vị kiên trì, theo đuổi trí tuệ viên mãn cho đến tận cùng mà cũng không nắm bắt được nó. Đây rõ ràng là bài học dạy chúng ta về Bồ Tát chạy theo tư duy về trí tuệ viên mãn với nhiệt tình chiếm đoạt lấy nó giống như người đàn ông luôn nghĩ ngợi về người phụ nữ đẹp, hấp dẫn, duyên dáng sau khi gặp một lần, và bị cấm đoán không cho gặp nữa.

 

2. Phương pháp tu tập thiền định theo tả phái Mật giáo có mục đích nhấn mạnh đến khía cạnh ghê tởm đáng sợ của thế gian và vũ trụ là để loại trừ tính chất vị kỷ trong con người, và cũng để dễ dàng tiến đến hợp nhất toàn diện với nguyên lý thần thánh. Hơn nữa đó cũng là mục tiêu để tẩy sạch, xóa bỏ toàn diện triệt để những nhân tố tạo thành lòng vị kỷ chẳng hạn như đam mê và dục vọng. Tập trung tinh thần và tư duy vào lòng vị kỷ, từ đó đạt đến trạng thái vô ngã, ở mức độ nào đó có thể giải thích về hình dạng những vị thần phẫn nộ, hung bạo, và đó cũng là biểu hiện những cố gắng của những người theo trường phái Du Già Hành trong việc trừ bỏ dục vọng và đam mê. Tiến Sĩ P.H Pott đã giải thích vấn đề này như sau:

 

“Khái niệm hủy hoại thường hay làm chúng ta liên tưởng đến nghĩa trang là nơi mà thân thể sẽ bị rửa nát ra. Do đó và cũng là lý do tả phái Mật giáo thường lựa chọn mộ địa làm nơi để hành lễ. Chính địa điểm tạo bầu không khí thôi thúc cổ vũ cho buổi hành lễ.” (1)

 

Về phương diện thần bí, mộ địa có thể xem như là nơi nối kết lần cuối giữa con người và thế gian.


3. Chúng ta cần phải khảo sát những cuộc tranh luận trong ý hướng muốn hợp thức hoá những hành vi không đứng đắn. Chắc hẳn không có một ai kỳ vọng hay ủng hộ cho người tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào làm hành động “hằng ngày giao hợp với thiếu nữ mười hai tuổi thuộc bộ tộc Candala” (2) như một loại nghĩa vụ thần thánh. ‘Bí Mật Tập Hội Kinh’ (guhyasamaja-tantra) là một trong những thánh điển đầu tiên, có sớm nhất của tả phái Mật giáo cho thấy chủ trương đối nghịch lại giáo lý khắc khổ, cấm dục của Phật giáo. Bộ kinh này giảng rằng con người chắc chắn dễ dàng thành Phật nếu để cho những cơ năng thỏa mãn những đòi hỏi. (3) Chính những hành vi mang tính chất thường bị cấm kỵ ẩn chứa trong đó tính chất huyền bí, vượt lên trên những quy ước xã hội có sức hấp dẫn kỳ lạ đến với tín đồ theo trường phái này. Họ phủ nhận những giới luật về thức ăn áp đặt lên người tu khổ hạnh. Họ chủ trương ăn đủ loại thịt như thịt voi, thịt ngựa và thịt chó, và trộn lẫn thức ăn, nước uống với phẩn thú vật, nước tiểu và thịt. Chính vì thế không lấy gì làm lạ khi người ta gọi giáo lý này là thác loạn, rời xa chánh đạo của con người.

 

Với những ai nghiên cứu về tâm lý chủ nghĩa huyền bí tất sẽ hiểu tường tận mục đích của giáo lý này. Điều mong muốn ở đây là chủ đích đưa những giác quan tiếp xúc với những đối tượng và tạo kích thích nơi các cơ năng cảm xúc bằng cách hoặc tạo sự quan tâm mạnh, hoặc gây cảm giác kinh tởm, ghê ghét.

 

(Còn tiếp)

Tùng Sơn -dịch 


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn