- Tâm hiếu của Thiền sư Tông Diễn - Như Hùng

06/02/201312:00 SA(Xem: 5276)
- Tâm hiếu của Thiền sư Tông Diễn - Như Hùng

 

 Như Hùng 

(Tiếp theo kỳ trước) 


3, ÂN QUỐC GIA XÃ HỘI CHÚNG SANH

 

Giáo lý mà Đạo Phật đóng góp vào truyền thống văn hoá của Dân tộc, không những thiết dụng về mặt tinh thần, mà còn hoàn thiện lý tưởng sống cao đẹp cho cá nhân và xã hội. Trong tinh thần từ bi, ban vui cứu khổ, trong sự hợp nhất của tri hành, trãi lòng từ bi hướng nguyện đến muôn loài chúng sanh, chuyển hoá khổ đau tìm đến giải thoát. Có như thế ta mới hoàn thành sứ mạng cứu mình, độ người và độ chúng sanh. Chúng ta truy niệm ân đức, lạy tạ công ơn những người xả thân hy hiến đời mình cho Dân Tộc, những bậc anh hùng cứu quốc, những chiến sỹ trận vong, những anh linh đồng bào tử nạn, vì sự sống còn của chúng ta, sự vươn lên đi tới của Dân Tộc, đã và đang dấn thân, hy sinh thân mạng. Giá trị đích thực của Đạo Phật Việt là đứng trong lòng Dân Việt, vì Dân Việt và cho dân Việt, kề vai sát cánh bất khả phân ly, dựng xây một xã hội lấy từ bi nhân bản và trí tuệ giải thoát làm sự nghiệp. Lý tưởng cao đẹp là lý tưởng đó phải được thành tựu trong sự cho và vì tha nhân, đồng loại, chúng sanh. Nó sẽ không còn cao đẹp nếu vì ý thức hệ, tôn giáo, chủ nghĩa cá nhân, bản ngã, lòng tham sân si mà hành động. Những gì phi Dân Tộc phản Dân Tộc, đứng ngoài Dân Tộc thì chắc chắn sẽ bị bánh xe lịch sử của Dân Tộc nghiền nát.

 

Ta làm đổi thay chính ta, con người, xã hội không phải bằng sự kêu gào, cố chấp, đổ tội, phê phán, mà bằng tấm chân tình không vị kỷ, bằng năng lực tu tập tỉnh thức, nhân cách làm người cao cả. Tâm hành của chúng ta là phụng sự cho chúng sanh bằng mọi cách để đi đến giải thoát. Lý tưởng của chúng ta là ban vui cứu khổ, giải phóng con người ra khỏi khổ đau. Đấu tranh là tranh đấu với chính ta, với bản ngã cố chấp, với phiền não vô minh, thiện, ác, tham sân si. Ta không thể thay đổi kẻ khác khi trong ta không tự mình thay đổi. Lối sống và cách sống của ta có đượcchuyển hoá, toát ra sự an lành khiến cho kẻ khác vững tin tìm về, từ bi trong ta có dâng trào, trí tuệ trong ta có thắp sáng? Chân lý hay phi chân lý, lý tưởng hay tham vọng, cá nhân hay tha nhân, nhập nhằng lẫn lộn, đánh đồng tráo đổi? Giáo lý tuyệt vời của Đạo Phật luôn tỏa sáng trong từng tâm thức, làm chổ dựa mong vững chải trong thế giới thống khổ phủ vây. Cái nào đáng để ta gánh trọn lên đôi vai, cái nào đáng để ta buông bỏ? Buông cái gì, bỏ cái gì, hay tất cả, do chính ta chọn lựa.

 

"Niên hiệu Vĩnh Trị năm 1678 vua Lê Hy Tông ra lệnh cho các quan khắp nước bất cứ ở đâu Tăng Ni hoặc già hoặc trẻ đều đuổi hết về rừng núi. Sư biết được tin này rất đau lòng, tự nghĩ: “Tại sao nhà vua đối với đạo Phật lại cho là vô dụng? Nếu ở núi rừng, dù thuyết pháp đá phải gật đầu, giảng kinh được hoa trời rơi loạn, cũng chẳng có lợi ích gì cho chúng sanh. Nếu không hoằng dương được chánh pháp thì làm sao đáng đền ơn Phật Tổ! Chỉ riêng tốt cho mình thì làm sao độ được hàm linh trong bể khổ, thật uổng công vào cửa Phật, luống trôi qua một đời.” Sư bèn quyết tâm rời chốn sơn dã về đất thần kinh, mong cảnh tỉnh nhà vua, cứu vãn Phật pháp trong khi tai nạn. Sư trở về trình thầy để xin phép đến kinh đô, Thiền sư Thông Giác hoan hỉ. Sư đi mấy hôm đến chùa Cổ Pháp, xin phép nghỉ lại trong chùa, vị Trụ trì ở đây tiếp đãi rất ân cần. Suốt đêm, Sư tọa thiền đến khi nghe tiếng chuông sáng mới xả thiền, lên điện lễ Phật. Khi lễ, Sư nhìn lên thấy tượng đức Điều Ngự, Sư liền viết bài thơ dâng lên như sau:

 "Trước là vua sau cũng là vua

 Xưa sao kính mộ nay chẳng ưa?

 Có linh xin nguyện phen này đến

 Cửa khuyết ra vào được tự do."

 

 (Tiền Quốc vương hề hậu Quốc vương

 Tiền hà kỉnh mộ hậu hà mang

 Hữu linh tương nguyện kim phiên xuất

 Ư cửu trùng môn nhập bất phương.)

 

Ba hôm sau, Sư đến kinh đô vào cửa Đông thì trời đã tối, nghe có tiếng mõ ở gần khám đường, ngỡ đây là nhà Phật tử, bèn gõ cửa. Chủ nhân mở cửa trông thấy Sư liền thỉnh vào nhà. Vào nhà, Sư thấy trên bàn thờ Phật hương đèn trang nghiêm, bèn hỏi:

- Tượng Phật thờ là từ đâu có ?


 Chủ nhà đáp:

 - Tôi là cai ngục, nhân đào đất được tượng đồng nên đem về thờ.

 

Sư bảo chủ nhà:

 - Tượng Phật qúy như thế lẽ nào lại thờ nơi thấp bé thế này, tôi muốn cùng anh mai ra thành phố quyên tải những nhà hảo tâm để mua cây gỗ cất một ngôi chùa nhỏ thờ Phật mới xứng đáng. Chủ nhà liền bằng lòng.

 

Sáng hôm sau, Sư ra phố phường quyên tiền, gặp quan Đề Lĩnh bắt đem về dinh chất vấn:

 - Hiện nay lệnh vua truyền khắp nước, tất cả Tăng Ni già trẻ đều phải vào ở trong rừng núi. Ông là người thế nào dám bỏ núi rừng về kinh kỳ đi lại tự nhiên như thế này ? Có phải khinh thường pháp luật của vua không ?

 

Sư trả lời:

- Mệnh lệnh của vua mà có ai dám trái phạm, chỉ vì kẻ Tăng quê mùa này ở trong núi sâu được một viên ngọc quí, mang đến đây để dâng hiến nhà vua, xin ông đạo đạt lên vua cho tôi dâng ngọc, dâng xong tôi sẽ trở về núi.

 

 Quan Đề Lĩnh nghe xong liền vào triều tâu lên vua. Vua sai quan Đề Lĩnh ra nhận ngọc đem vào vua xem. Đề Lĩnh về thuật lại Sư nghe,Sư nói:

 - Viên ngọc quí rất thiêng liêng vô giá, người ăn cá thịt hôi tanh không thể cầm giữ được, dám phiền ông trình lên nhà vua cho tự tay kẻ hèn này dâng lên nhà vua, cho mãn nguyện của kẻ trung thành ở nơi hoang vắng.

 

Quan Đề Lĩnh vào tâu lại, nhà vua không bằng lòng. Sư than: “Mặt trời tuy sáng tỏ, không khỏi bị mây che. Mặt trăng dù rạng ngời, khó khỏi đám mây phủ, việc này như thế ta biết làm sao?” Sư ở đây ba tháng mà không vào được triều đình, bèn suy nghĩ viết một tờ biểu, nói rõ việc tu hành cách thức làm yên nhà lợi nước một cách rành mạch rõ ràng. Thí dụ đạo Phật như là hòn ngọc quí soi sáng mười phương, phá dẹp mọi mây mờ u tối. Viết xong, Sư để trong cái hộp đem dán kín cẩn mật, xin cầu quan Đề Lĩnh vào triều tâu lên Thánh thượng một lần nữa rằng: “Xin nhà vua chọn lấy một ông quan văn trung trực thanh liêm, tắm gội và trai giới ba ngày, sẽ ra nhận ngọc quí dâng lên vua.” Vua nghe xong liền phán cho viện Hàn lâm chọn một người rất tín cẩn, thành tâm trai giới ba ngày rồi đến chỗ vị tăng quê nhận lấy hòn ngọc dâng lên vua. Vị quan văn được đề cử giữ đúng trai giới ba ngày xong, liền đến dinh quan Đề Lĩnh hỏi vị tăng để nhận ngọc. Sư trao cái hộp, dặn dò cẩn thận dâng lên tận tay vua. Vị quan văn bưng hộp ngọc đến trước triều dâng lên vua, khi mở ra xem chỉ là một tờ biểu, chớ không có hòn ngọc nào. Vua phán vị quan văn đọc tờ biểu cho vua nghe. Vị quan quì đọc xong, vua nghe qua thấy lý lẽ rõ ràng, sự tình đầy đủ, lời văn sáng suốt, ý tứ thâm trầm, bèn ra lệnh quan Đề Lĩnh dẫn vị tăng này vào triều.

 

Khi vào triều, vua cho Sư ngồi một bên trước mặt vua. Vua hỏi những sách lược trị dân, Sư ứng đối sự lý rất dung thông. Khi ấy, vua phán: “Đạo Phật là viên ngọc quí, chẳng lẽ trong nước chúng ta không dùng, Tăng Ni hay khuyên người làm thiện, tại sao lại vất bỏ đi? Người đem Phật pháp khai hóa dân chúng cũng là phương pháp tốt giúp cho triều đình trị dân.” Vua liền mời Sư ở lại chùa Báo Thiên để bàn luận đạo lý. Thượng hoàng nghe tiếng sai Trung sứ đến nói với vua thỉnh Sư vào cung diễn giảng kinh pháp. Vua cũng đến dự nghe thấu hiểu đạo lý, liền ban cho Sư được quyền ra vào nội cung để tuyên dương chánh pháp, đồng thời ra lệnh thu hồi lệnh trước, để Tăng Ni tự ý trở về chùa mình ở đâu tùy duyên giáo hóa.

 

Vua Lê Hy Tông đã thấm nhuần đạo lý, thành tâm sám hối lỗi trước của mình, nên tạc hình vua quì mọp để tượng Phật trên lưng để tỏ lòng thành sám hối. Tượng này hiện còn thờ ở chùa Hồng Phúc.

 

Đã giải được ách nạn của Tăng Ni (Phật pháp) và giáo hóa được vua chúa trong triều, Sư nghỉ việc xin vua về núi thăm thầy. Vua bằng lòng liền ban áo gấm cho Hòa thượng ở núi để an ủy, tặng tiền bạc để Sư làm lộ phí, hẹn thời gian ngắn gặp lại.

 

Hôm ấy, Sư lên đường khi đến bến đò Bồ-đề, thấy nước sông Nhị trong veo thuyền lớn nhỏ qua lại tự do, liền cảm hứng làm bài thơ:

 "Ngàn tầm sông Nhị đục rồi trong

 Qua lại thuyền bè rất thong dong

 Mừng gặp Bồ-đề đồng đến bến

 Toại lòng ta nguyện độ quần sanh ".

 

 (Thiên tầm Nhị thủy trọc hoàn thanh

 Phao quá đông tây vãng phục hành

 Hỉ đáo Bồ-đề đồng đáo ngạn

 Toại dư xuất thế độ quần sanh).

 

Sau đó, về đến Đông Triều, rồi tới Hạ Long, Sư lên điện lễ Phật, vào phương trượng lễ thầy, mọi người gặp lại trong niềm hoan hỉ. Ở lại thời gian, Sư từ giã trở lại kinh đô. Về đến kinh vua chúa đều mừng rỡ. Vua ban cho Sư chức Ngự Tiền Chi Quân (ngồi ở trước vua) và áo gấm. Sư từ chối chức tước, chỉ nhận áo gấm cho vui lòng vua. Sư tổ chức khắc bản in kinh Hoa Nghiêm để ở chùa Báo Thiên, khắc bản kinh Pháp Hoa in để ở chùa Khán Sơn. Bấy giờ bà Quốc nhũ (mẹ vú của vua) quê ở Hòe Nhai mời cậu vua phát tâm cúng dường cho Sư tu sửa chùa Hồng Phúc. Sư nhận lời khởi công xây dựng không bao lâu thì được hoàn thành. Làm chùa xong còn dư tiền, Sư sáng lập chùa Cầu Đông, xong xuôi Sư xin vua cho người cai ngục lúc trước làm tăng gìn giữ chùa Cầu Đông."

 

Đường đạo hay đường đời không phải lúc nào cũng bình yên, kẻ khác mang đến thì ít mà do ta khuấy động thì nhiều. Dù tâm hay cảnh, nội giới hay ngoại giới, thì tự mình quán chiếu tìm phương vượt thoát. Không có điều gì tự nhiên đến mà không có nguyên nhân, tất cả đều do nhân quả nghiệp duyên. Ta tỉnh thức tu tập, bằng lòng đón nhận tất cả trong sự hoan hỷ tuyệt cùng, thì cảnh cùng tâm mới không gây đau khổ, ta mới được nhẹ nhàng an lạc.

 

Ai trong chúng ta không từng thọ ơn của muôn loài chúng sanh, từ thiên nhiên đến con người, từ chuyện lớn đến vật nhỏ, chén cơm ta ăn, cái áo ta mặc, công sức mồ hôi nước mắt của biết bao con người. Tiếng chim hót líu lo trên cành, đoá hoa trong vườn nở rộ, đem đến cho ta hương vị sắc màu, những phút giây thả hồn lắng đọng, một chút hoan hỷ thảnh thơi ghé lại nơi tâm hồn, tất cả đều là ơn.

 

Ta lạy tạ ơn đời, ơn người, ơn tất cả chúng sanh, cho và vì sự có mặt của ta trong cuộc đời nầy. Dù cuộc sống của ta khổ đau hay hạnh phúc, nụ cười hay nước mắt, ta vẫn phải tạ ơn đời sống vừa khổ vừa vui, vừa được vừa mất nầy. Lạy tạ những người đem niềm vui và nỗi khổ đến, để ta còn dịp trả hết nghiệp một lần cho trọn. Tạ ơn một lòng tạ ơn.

 

(Còn tiếp)


 Như Hùng


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn