- Tư tưởng Thiền học Trần Thái Tông

25/06/201112:00 SA(Xem: 7524)
- Tư tưởng Thiền học Trần Thái Tông


TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC

TRẦN THÁI TÔNG

 Như Hùng

 

Sám hối là một phương pháp trải lòng, dâng hiến, đối diện với chính mình, với những nghiệp quả do mình tác tạo trong hiện tại và trong vô lượng kiếp số về trước. Đem tất cả phơi bày, cùng với tâm thành, hướng về chư Phật, chư Bồ Tát, thành tâm sám hối và phát nguyện không bao giờ tái phạm. Một khi ta biết cách làm sống lại con người thật của mình, khai quật bản thể giác ngộ, Phật tánh, đang có sẵn trong chúng ta và trong tất cả chúng sanh, liên tục gìn giữ duy trì, quyết không tái phạm, lúc đó ta mới thấy được ý nghĩa sám hối thật sự. 


Từ trước đến nay chúng ta luôn sống trong sự tích chứa, góp nhặt mỗi ngày một ít phiền não khổ đau, cứ thế nó đong đầy trong ta từ lúc nào mình không hề hay biết. Ta chỉ biết nỗ lực để cầu, để xin, để nhận, để được ân sủng. Chứ chưa biết nỗ lực để cho, để đền, để tặng, để dâng hiến. Ta chưa biết cách buông xả, nên cứ chìm dần chìm xuống mãi, do vì cưu mang, nhận vào chứ không chịu cho ra, nên không có dịp thoát khỏi, cứ mãi đắm chìm trong sinh tử luân hồi. Bởi vì những thứ mà ta có được cũng chỉ là sự trá hình biến dạng khiến ta lầm tưởng là thật, đúng ra nó đang bị vô thường chi phối huỷ hoại. Chỉ khi nào ta biết thực tập cách buông bỏ, hoan hỷ, biết cách phá trừ chấp ngã chấp pháp, khi nào đạt được lý lẽ của chân thường bất biến, lúc ấy có không, được mất, không làm hề hấn, ta mới thật sự nhẹ nhàng đến đi không ngăn ngại.


Hình như nỗi khổ đau gặm nhắm, những nhập nhằng gian khổ ăn sâu, thấm vào trong tận cùng tâm thức của ta từ thưở nào. Từ thuở cha mẹ chưa sanh ra, từ vô lượng kiếp số, nó cứ dai dẳng bám theo, đeo mãi mà không có cơ hội trút bỏ được, cứ mãi lang thang phiêu bồng trầm luân trong sinh tử. Ta chỉ có thể thoát ra, là lúc ta tìm thấy một hành trình mới, một sự huân tập khác, làm thay đổi toàn bộ cục diện cũng như bản chất từ ngàn xưa. Điều mới đó, là sự thay đổi, hoán chuyển thói quen tập khí trong nhiều đời, trong mọi suy tư và hành động, thì những khởi dậy đó sẽ mang hương sắc tươi đẹp, an lạc, giải thoát.


Hầu như trong tất cả sáng tác của Trần Thái Tông cuối cùng đều dùng đến thi ca, thi kệ làm biểu tượng, chuyên chở nội tâm giác ngộ. Có thể lối diễn đạt, xử dụng thi ca trong ngôn ngữ dễ cảm nhận, và tiến đến gần với chúng ta hơn. Nó đòi hỏi kẻ thưởng ngoạn phải tư duy đúng mức, để bắt được tần số cung bậc, nếu không sẽ hoài công vô ích. Trong công án, thi kệ, ngôn ngữ thi ca trở nên quyền biến, linh hoạt, cô đọng. Vì thế dễ đánh động tâm thức của kẻ đối diện, khi kẻ ấy biết vận dụng thắng duyên nội tại, bởi lẽ khi nó vụt khởi, không đi qua chặng đường suy luận, so đo, mà do huân tập bởi trí tuệ, tỉnh thức mới có được. Điều nầy nói lên công phu tu tập ở mỗi tâm năng, sự tàng chứa trong mỗi tâm thức. Ở đây chỉ đề cập đến sự mở tung, đồng cảm, bắt nhịp của tâm thức, như sự “gảy mỗ” một thuật ngữ vi diệu của thiền. Vì lẽ nếu dùng trí thức năng động để dệt nên, sẽ có bóng dáng giả hợp của sắc không, bản chất vô thường của ngôn ngữ, và sự ngự trị của vô minh, như thế sẽ không đi qua được chặng đường truy cập tự thể. Nếu vậy, ta vẫn là kẻ đứng bên ngoài để ngắm nhìn, phê phán, chưa có dịp xúc tác vào bên trong, làm cho ta càng rời xa giác ngộ hơn. Vì lẽ giác ngộ một khi khởi lên, sẽ đẩy lùi tất cả, như ánh sáng bừng lên tức khắc bóng tối phải tiêu tan. Cái khó, và sự cùng tuyệt của giác ngộ là mức độ huân tập, tỉnh thức, duy trì có dài lâu, có sâu dày ở trong ta hay không? 


Công án, sự chứng ngôn bằng ngôn ngữ, một thứ siêu ngôn, vượt ra ngoài mọi cấu tạo, phá vỡ giai tầng, nối kết của tâm ý. Nhằm phong tỏa tâm thức của thiền sinh, khiến rơi vào thế bí, cùng quẩn, với sự tra vấn, đánh động, gõ nhịp liên tục, khiến tâm thức không có chỗ nương dựa, trụ bám vào đâu, không một kẽ hở để ý thức có dịp xen vào lũng đọan, níu kéo. Xoay tất cả năng lực liên tục đánh vào một điểm duy nhất cho đến khi nào nó vỡ tung ra, trông thấy thật sự những bí ẩn chôn dấu đàng sau, đó là cái gì ra sao. Như tiếng sấm nổ vang dội khiến ta giật mình choàng tỉnh, như cơn nước lũ cuốn phăng tất cả, không lưu lại dấu vết. Chỉ có tác động, quật khởi, thường nghiệm trong sự rộng mở, và trong sát na nào đó tức khắc ta bừng lên giác ngộ.


Hình thức công án xuyên qua niệm tụng của Trần Thái Tông, như là một nghi thức, một kỹ thuật, một phương cách hiệu nghiệm, nhằm kiểm soát sự đi lại, phóng ý, của tâm thức. Bằng vào con đường thường nghiệm xuyên qua cửa ngõ thân và ý, tâm và hành, song song trong việc xoáy thẳng, đập vào tận cùng mọi ngõ ngách, khiến cho giác ngộ vụt khởi. Nó tạo nên sự bắt nhịp nhẹ nhàng không gây thương tổn, khủng hoảng cho tâm thức. Tưạ như làn gió mát thổi lùa qua khung cửa, làm cho tâm hồn rộng mở hân hoan, bao nhiêu chiêm bao, mộng mị, ngủ say nào đó ở trong ta có dịp cựa mình tỉnh giấc.


Ta thử đọc và chiêm nghiệm một vài công án trong số 43 công án Thiền của ông.


Công án một:

Nêu: Thế Tôn chưa rời đâu xuất đã giáng xuống cung vua, chưa lọt lòng mẹ đã độ hết thảy chúng sinh.


Niệm: Gươm giáo chưa cầm

 Tướng tài đã lộ.

Tụng:  Chưa hình ấu tử, chửa rời quê

 Đêm thẳm đưa người qua bến mê

 Cao bước dạo chơi ngoài khoảng cách

 Không cần thuyền bản với phao bè.


Công án thứ năm:

Nêu: Thế Tôn lên tòa, Văn Thù Bồ Tát thưa rằng: thấu suốt phép của Phật, Phép của Phật là như thế.

Niệm: Đàn không giây gảy khúc dương xuân

 Vang mãi muôn đời âm chẳng dứt.

Tụng: Từng câu từng tiếng, không tỳ vết

 Sừng giấu nhưng đuôi vẫn lộ ra

 Thôi lấy ống tre thay sáo trúc

 Vì người dạo khúc thái bình ca.


Công án thứ mười:

Nêu: Mã tổ nói từ sau loạn rợ Hồ ba mươi năm chưa từng thiếu tương muối.

Niệm: Mặc dù chẳng phạm mảy may.

 Vẫn là cầm bánh liếm tay.

Tụng: Bình sinh đánh bạn với ma men

 Nhà ở thường như quán rượu quen

 Vi thử khoe mình người láu lỉnh

 Giữa đường phải cởi áo cầm tiền.


Công án thứ bốn mươi ba:

Nêu: Từ Minh hỏi Chân Điểm Hung về đại ý Phật pháp.

Chân đáp: Mây "không " sinh đỉnh núi

 Trăng " có" rơi đáy sông.


Minh quát: Đầu đã bạc, răng đã vàng mà còn kiến giải như thế à? Chân rơi nước mắt hầu lâu thưa: Chẳng hiểu thế nào là ý lớn về Phật pháp.

Minh nói: Mây 'không" sinh đỉnh núi.

 Trăng "có" rơi đáy sông.

 Chân bừng tỉnh ngộ.

Niệm: Người nhân thấy nó bảo là nhân.

 Người trí thấy nó bảo là trí.

Tụng: Đây, đó cùng rung một điệu cầm.

 Lòng riêng nhắn nhủ bạn tri âm.

 Mây "không", trăng "có" tuy cùng dạng.

 Khác ấy: sơn cao và thủy thâm.

 Hứ!

  Chạy vạy suốt ngày trong bụi đỏ

 Trong nhà, của báu có không hay.

 Hừ!

 Buông tay, không dựa, tính phơi bày

 Thuyền trú hoa lau, chài ngủ say.

Lê Hữu Nhiệm - Băng Thanh dịch, Thơ Văn Lý Trần, tập 2 quyển thượng, trang 136,137,139,150.


Khi đến gần, đối diện với bệnh tật sống chết, khi thước phim nhân quả nghiệp lực tàng chứa trong tâm thức, chủng tử bùng lên, giành giựt, quyết định. Cũng là lúc nghiệp lực nặng nhẹ vi tế, theo đó dẫn dắt ta đi về nơi ấy. Tất cả nhửng tác tạo ở tại thế giới nầy, ở ngay nơi đây, ở ngay lúc nầy, đều phải giải quyết cũng tại nơi chốn nầy. Ta té xuống đất cũng phải vịn đất mà đứng dậy, chờ để được về thế giới nào khác không biết nó có không? Bởi lẽ ta sống thở ở nơi đây, ở ngay hiện tại nầy, nếm đủ buồn vui, liên tục bị đau khổ hành hạ, lại bị chính cái ta, cái bản ngã ấy quấy rầy, lừa dối, ru ngủ. Khiến ta phải khổ đau ê chề, từ ngày này qua ngày khác, không một phút giây nào dừng lại, không có dịp xem lại chính mình. Ta không thể chờ đợi về thế gìới khác mới lo giải quyết, không biết nó có tồn tại hay không, hay đó chỉ là sự hình dung tưởng tượng, ru ta ngủ để dễ bề sai khiến? Sự thật nó nằm ở trong ta chứ không nằm ở nơi khác, ta sống như thế nào, ta chết cũng như thế ấy, ta đau khổ trong hiện tại, thì liệu ta có an lạc trong tương lai? Lúc Trần Thái Tông sắp bước vào thế giới của sinh ly tử biệt, ông còn minh mẫn đã là hy hữu rồi, càng hy hữu hơn, khi ông vẫn còn tỉnh thức an lạc, để trả lời những sở đắc về Phật pháp. Chừng đó, khiến cho ta cúi đầu quy ngưỡng trước nội tâm chứng ngộ tuyệt vời ở nơi ông.


" Khi Ngài nằm trên giường bệnh, vua Trần Thánh Tông vào thăm, nhân hỏi về đạo Phật:

- Chân không với ngoan không là đồng hay dị?

Vua Thái Tông đáp:

- Tự lòng mê hay ngộ nên có "chân" và "ngoan" khác nhau, còn Hư không vẫn là một. Ví như cái nhà ở, mở cửa ra thì sáng, đóng cửa lại thì tối. Sáng tối dẫu khác nhau, nhưng cái nhà thì vẫn chỉ là một.

Bữa sau Quốc Sư Đại Đăng vào vấn an, hỏi Ngài:

- Bệ Hạ mắc bệnh đấy ư?

Ngài đáp:

- Tấm thân tứ đại vốn là bệnh rồi, còn Chân Tánh nguyên lai đối với sinh tử còn chẳng dính dáng gì đến thay huống chi là bệnh.

Sau đó vài ngày, ngài lặng yên không nói, xua hai bên tả hữu mọi người lui ra, trối trăn việc nước lại cho con là vua Trần Thánh Tông.

Vua Thánh Tông muốn sai Quốc sư Phù Vân và Đại Đăng vào diễn cái phép xuất thế gian. Vua Trần Thái Tông lớn tiếng nói:

- Đến lúc này bớt đi được mảy tóc nào thì dường như cắt được cái nhọt trên thịt; thêm vào mảy tóc nào thì khác nào rắc bụi vào mắt. Phù Vân bàn huyền, Đại Đăng nói diệu, đều là lời thừa cả, có ích gì đâu?


Rồi Ngài tịch ở Vạn Thọ cung, giữa ngày một tháng tư năm Bảo phù thứ V (1277) đời vua Trần Thánh Tông, táng ở Chiêu Lăng".


Hình như sinh tử, vô thường, đến đi không làm hề hấn những con người tự tại, giải thoát. Sự có mặt của họ ở trong cuộc đời này chỉ là sự dừng chân hóa độ, thăm hỏi thế gian và rồi sau đó ung dung rũ sạch tấm thân tứ đại nhẹ bước vân du trong sự chuyển tiếp vì hạnh nguyện độ sanh khác. Người đi về cõi vô sinh diệt, hương trí tuệ giác ngộ, trần gian nghìn năm còn đọng lại.


 Như Hùng

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn