- Giáo dục trong đạo Phật

26/02/201112:00 SA(Xem: 7811)
- Giáo dục trong đạo Phật


GIÁO DỤC TRONG ĐẠO PHẬT

(Ý, Khẩu và Thân)

 Đức Hạnh

 

1. Ý giáo

Ý giáo, nghĩa là tâm thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa của từng pháp môn tu trong ba tạng Kinh, Luật, Luận gọi là nội điển và văn hóa phổ thông thế gian gọi là ngoại điển đối với chư Tăng, Ni và Phật tử tại gia, dù có giữ vai trò đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp hay chỉ chuyên tu tập trong am thiền, tịnh thất, tư gia Tất cả ai cũng phải dung thông lý Đạo trong các Kinh, Luật, Luận và văn hóa thế gian, nói như Lục tổ Huệ Năng: “Thế gian pháp tức thị Phật pháp”.

 Chính trong giai đoạn học tập Phật pháp và văn hóa thế gian là thời kỳ tạo dựng sở học làm cơ bản cho việc tu tâm tích đức, đời gọi là tu thân tích đức. Thật sự Đạo hay Đời đều tu tâm tích đức. Đức ở trong tâm chứ không phải ở thân. Đức là nền tảng của ba bước giáo dục cho Tăng, Ni, Phật tử hậu lai trong lãnh vực Phật giáo, cho dân tộc hậu thế thuộc lãnh vực thế gian. Các hàng hậu lai Đạo, Đời đều được giáo dục bằng Đức qua ngôn ngữ. Đời gọi là lấy Đức để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trong Phật giáo dùng Đức cho việc hoằng hóa độ sanh, giáo dục Tăng Ni sinh và Phật tử để kiến Đạo, hành Đạo và chứng thành Phật Đạo.

 Đức của người thế gian là tâm hiền hòa, đôn hậu, bao dung, hoan hỷ, sẵn sàng tha thứ, không khó tính điều gì với mọi người, có tấm lòng cứu giúp kẻ khốn cùng, có tình thương yêu tất cả chúng sinh, v.v… gọi là Nhân đức, Thiên đức.

Đức của các hạng người trong Đạo Phật nói chung, có cả hai thế gian đức (Thiên và Nhân) và Phật pháp đức. Đức thế gian như đã nói ở trên; đức Phật pháp là chân tâm, vô ngã, thanh tịnh, trong sáng, rỗng lặng… chính là năng lực giao cảm với chư Phật, Bồ Tát thường gọi là đạo giao cảm, con đường giải thoát sinh tử.

Đức là ánh sáng của Đạo. Đức hiển lộ ra ngoài thân (tính tình), Đạo ẩn tàng trong nội thức, nhưng năng động, hằng chuyển sinh vạn hữu (nhứt thiết duy tâm tạo) được Đức chất chứa vạn hữu của Đạo trong vai trò công dụng, lệ thuộc và bảo vệ Đạo. Cho nên tướng của Đức được biểu thị cho Đạo.

Đức có trước, Đạo có sau. Có Đức rồi mới có Đạo, thấy Đạo. Hai thứ Đức Đạo ở đây đều là Chân, Thiện, Mỹ. Chứ không phải là ác đạo, bởi vì do Đức. Đức không bao giờ có trong ba đường ác. Đức bị mất khi tâm con người bị mất trật tự tức là mất nhân đạo, thiên đạo, Phật đạo, thì nhất định bị thay vào đó ba ác đạo. Do vậy Đức không có trong ác đạo, chỉ có ở nhân đạo, thiên đạo, Phật đạo gọi là Thiện đạo.

Trên thế gian này, mọi sự, mọi vật như mây bay, gió thoảng, nắng mưa, trăng sao, mặt trời, hư không, mặt đất, sỏi đá, nước chảy, cỏ cây, hoa nở, hoa tàn, sáng ra, chiều đến, súc vật, con người, vân vân… Tất cả hiện tượng hiện hữu trong trật tự. Cái trật tự lớn để sanh ra nhiều trật tự nhỏ, đó là con người. Con người sống có trật tự đúng theo pháp luật (Đạo luật) từ trong nhà ra ngoài xã hội ở lãnh vực bản thân. Con người làm theo đúng trật tự thế gian ấy để được có đời sống an bình, hạnh phúc vật chất cho mình, cho tha nhân, chính là do tâm có đức. Tâm có đức mới cảm nhận được mọi thứ trật tự đó. Từ đây cho ta thấy rõ trật tự là Đạo. Đạo trật tự ở đây là Thiên đạo, Nhân đạo, Phật đạo. Tâm có trật tự của Nhân đạo, Thiên đạo (Nho, Lão), Phật đạo. Con người phải sống theo một trong ba cái trật tự ấy để có đời sống thiện đạo. Thiện đạo nhỏ là Đạo Nho Lão mang tính của Thiên Nhân. Còn Thiện đạo lớn là Phật giáo mang tính Phật Đạo, con đường vô sinh, vô tử.

Con người sống không theo trật tự của Đạo thiện, dĩ nhiên là ác Đạo, không có trật tự. Cho nên Đạo có cả hai Thiện đạo và Ác đạo. Là con người, phải chọn Đạo nào để sống có trật tự. Dĩ nhiên là chọn Thiện đạo nhỏ hoặc lớn để có một đời sống thật an bình, hạnh phúc, không gây tác hại cho tha nhân, loài vật bị khổ đau ở bản thân, ưu phiền, oán hận ở tâm linh… Chọn Thiện đạo, con người phải có Đức mới chọn được. Không Đức thì nhất định luôn bị ác đạo xâm nhập vào tâm, liền hiện ra ngôn ngữ và hành động ác.

Nguyên lý của Nhân đạo là Đức. Đức là nền tảng siêu lên các cõi cao. Do vậy con người phải có Đức. Đức càng cao, Thiện đạo càng lớn theo tỷ lệ thuận, gọi là Đạo cao, Đức trọng. Người thế gian, hay người trong Phật giáo (Tăng, Ni và Phật tử) ai có Đức lớn được các giới xã hội kính trọng, còn ma quỷ thì sợ hãi, nên ngạn ngữ có câu “Đức trọng quỷ thần kinh” hay câu “Người có Đức mặc sức mà ăn”.

Đức có thể được có sẵn trong tâm con người ít hay nhiều do quả báo nghiệp của kiếp trước, nói như Nguyễn Du “Thiện căn bởi tại lòng ta”. Do vậy kiếp này mau ngộ Đạo thánh hiền (Khổng, Lão), Đạo lý Phật giáo sau khi được tiếp nhận đạo lý Khổng, Lão, Phật từ ông bà, cha mẹ, sư trưởng nói lời giáo dục.

Hay Đức chưa có, được có trong thời gian tu thân bằng đạo lý (Khổng, Lão) tại gia do ông bà, cha mẹ nói lời giáo dục, hoặc đọc sách thánh hiền. Đó là hạng người thế gian. Còn các hàng Tăng sĩ, Phật tử được tu tâm bằng Phật pháp trong tu viện, trong chùa, do các danh Tăng chỉ giáo hay tự học hỏi, nghiên cứu qua sách báo, kinh điển Phật giáo mà được có Đức.

Nhờ có Đức, con người mới thấy được Đạo Thiện, Ác. Thấy Đạo Ác để tránh tội lỗi, các điều sai quấy ở lời nói và hành động. Thấy Thiện Đạo để tiến tu lên con đường Chân, Thiện, Mỹ. Người thế gian, người trong Đạo Phật không nghiên cứu học hỏi sách vở thánh hiền, kinh điển Phật giáo để tu tâm, tu thân, làm sao có Đức! Phải có Đức qua công phu học hỏi và tu tập đạo lý thánh hiền, Phật pháp để có Đức. Đức là sự nghiệp của trí tuệ, cây đèn sáng của tâm thức để thấy thiện, ác. Tránh ác, làm thiện để có được một đời sống trật tự (đời sống Thiện Đạo), an bình, hạnh phúc thực tại và giải thoát sinh tử ở mai sau.

Vì thế con người phải tạo Đức tức trí tuệ, sự hiểu biết để thấy Đạo. Thấy dấu Đạo Thiện, chưa phải là đạt Đạo. Muốn đạt Thiên Đạo, Nhân Đạo, Phật Đạo, cần phải tu thân, tu tâm để có Đức mà tu theo dấu Đạo Thiện đã thấy thì sẽ đạt Đạo do Đức trợ duyên nên chi người tu tập, thân tâm họ luôn được an lạc, thanh tịnh, thảnh thơi, trật tự và im lặng, không bị cảnh trần xen tạp vào tâm.

Đức mà không có Thiện Đạo theo sau, đó là Đức giả, nên chi người đời thường nói “đạo đức giả” là như vậy. Bởi vì hễ có Đức thật là có Thiện Đạo thật. Không Đức thì không có Thiện Đạo (thử vô cố bỉ vô), nếu không nói là thiếu văn hóa và giáo dục đời hay đạo.

Nói khác hơn, người đời nếu chưa có thiện căn, nhờ học hỏi văn chương chữ nghĩa, văn hóa dân tộc và đạo lý thánh hiền (Khổng, Lão) mới được có Đức thấp hay cao (trí thức hiểu biết ít hay nhiều). Từ Đức mới ngộ được đạo lý thánh hiền mà xử thế với nhau có đạo nghĩa từ trong gia đình ra ngoài xã hội, gọi là ăn ở cho phải đạo làm người.

Những hành giả trong Phật giáo nhờ học và tu tập Phật pháp mà được có Đức (trí tuệ). Có trí tuệ mới tỏ ngộ được lý lẽ của Đạo. Lý lẽ của Đạo làm sáng tỏ Đức như lửa làm sáng tỏ tim đèn. Nếu không có lý, Đức không được minh. Không có lý ở đây là không cần mẫn tìm tòi học hỏi lý ở trong đạo, làm sao đức được sáng! Đức thế gian hay Đức đạo Phật, Đức nào cũng phải được kiến tạo bởi tu tập học hỏi. Đúng như Khổng Tử đã nói: “Ta không phải là người sinh ra đã có trí tuệ (Đức), nhưng nhờ chuộng cổ, cần mẫn học tập mà hiểu được đạo (đạo thánh hiền.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn là Thái Tử, ngài vốn có cái đại Đức trong lòng. Đức ấy là thiện căn lớn, cho nên ngài đã khởi tâm đại bi thương chúng sinh, mong muốn đi tìm phương pháp cứu chúng sinh được thoát 4 cảnh khổ sanh, già, bịnh, chết, sau khi ra dạo chơi ngoài 4 cửa thành. Đến khi xuất gia tu hành dưới cội cây Bồ Đề, Đức vốn vĩ đại ấy càng lúc càng vươn lên tối cao, tỏa ra ánh sáng lớn khắp 10 phương chư Phật và chúng sinh trong ba cõi, mà cái tim của đại đăng ấy, sở trụ của nó ở tâm thức ngài, do đó ngài đã đạt được tam minh thiên nhãn, túc mạng minh và lậu tận minh. Liền sau đó ngài đạt Đạo giác ngộ hoàn toàn (đại giác).

Qua cái Đức và Đạo của Đức Phật, cho ta thấy Đức và Đạo là hai điều kiện, hai phương tiện ắt phải có đối với các hành giả trong Đạo Phật ở hai lãnh vực thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh trong việc phá trừ cho hết vô minh vi tế trụ địa ở nội thức để không còn bị biến dịch sinh tử nữa mà vào Niết Bàn vô dư và lãnh vực niệm Phật vãng sanh cực lạc, hay là muốn rong chơi trong sinh tử trên vận hành thuyết pháp độ sanh… Tất cả đều phải tạo Đức và Đạo (nhân bản và Phật giáo). Không có Đức và Đạo thì không được tất cả. Có Đức có Đạo thì được tất cả.

Đức chính là tâm từ bi, Đạo là tâm có trí tuệ Phật, cho nên người có Đức và Đạo Phật giáo, tâm tánh thật hiền lành đôn hậu, ưa tha thứ bao dung độ lượng, tất cả do Đức và Đạo tương duyên nhau mà có. Nói rõ hơn trí tuệ Phật sanh ra từ bi Phật. Từ bi Phật sinh ra trí tuệ Phật. Hai đức tính tương quan nhau tạo nên sự hiểu biết và lòng thương rộng lớn đối với chúng sinh một cách bình đẳng.

Bình đẳng chính là Trung đạo, con đường của hòa bình, an vui, đoàn kết, lợi lạc giải thoát, không có đường ác của độc tài, độc diễn, không có tranh cãi, hận thù nhau trong bất cứ môi trường nào (đạo, đời). Đó là chủ trương của Đạo Phật. Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni khi sống trong cõi ta bà trong vô lượng kiếp đã thực hành cái tâm bình đẳng ấy nên ngài đã thành Phật ngay từ dạo đó (Kinh Pháp Hoa – phẩm Như Lai Thọ Lượng).

Vì thế người Phật tử tại gia không thể không tu cái hạnh bình đẳng ấy. Nhất hạng là chư vị có chức vụ lãnh đạo tập thể hội Phật giáo là những người cầm càng hướng dẫn mọi người thiết lập trật tự để có Tịnh Độ tại chốn thiền môn, lại càng tu hạnh bình đẳng nhiều hơn mọi người: Được như vậy là do tâm có Đức và Đạo, tức là có từ bi bao la và sự hiểu biết rộng lớn nhân bản và Phật giáo. Bằng không sẽ gây ra nhiều hiện tượng mất trật tự hỗn loạn muôn đời.

Sở trụ của Đức và Đạo nhân bản và Phật giáo là ở trong tâm ý con người, nên thường gọi là Ý Giáo. Ý giáo nghĩa là tự mình giáo dục lấy mình do tâm ý thông đạt Phật pháp và đạo lý thánh hiền, do vậy ý giáo tức là Đức và Đạo (nhân bản – Phật đạo) là gốc rễ đưa hành giả đến mục tiêu thấy Đạo, hành Đạo và đạt Đạo. Điều này đích thực cho ta thấy trong quá khứ xa xưa qua các triều đại và hôm nay trên quê hương nước Việt có nhiều vị đạo sư cũng như Phật tử tại gia đã và đang kiến Đạo, hành Đạo và đạt Đạo giác ngộ bằng Đức và Đạo Phật giáo, trong đó có các vị Vạn Hạnh Thiền sư, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, tổ Liễu Quán, Nguyên Thiều, v.v… Ngày nay có các vị Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, vân vân…, đúng như lời đạo sư Tuệ Sỹ nói “Tôi là con mọt sách”. Vì thế nên chi quý ngài đang có một tình thương lớn đối với dân tộc và Đạo pháp trên cơ sở xây dựng nền văn hóa lớn do có được Đức và Đạo nhân bản và Phật giáo.

 

2. KHẨU GIÁO

Khẩu giáo là ngôn ngữ giáo dục trực tiếp. Dù cho lời nói giáo huấn, huấn luyện, dạy dỗ, diễn thuyết, giảng dạy. Tất cả đều ở nghĩa giáo dục. Như ông bà nói lời chỉ giáo với cha mẹ. Cha mẹ nói lời dạy bảo con cái. Thầy cô ở trường giảng dạy giáo khoa cho học sinh. Các khoa học kỹ thuật gia diễn nói bài vở, công thức cho các sinh viên. Sư trưởng nói lời giáo huấn cho các sư đệ. Bổn sư nói lời giáo huấn cho các đệ tử. Các giáo thọ giảng dạy kinh luật cho các Tăng, Ni sinh. Chư Tăng thuyết pháp cho Phật tử… đều thuộc về lãnh vực giáo dục.

 

Ngôn ngữ giáo dục khác với ngôn ngữ sân si, tranh cãi, giận hờn, phân bua thua thiệt, v.v… Ngôn ngữ giáo dục có âm Đức, tức là có âm điệu từ tốn, mạch lạc, dịu dàng, hiền hòa, nhẹ nhàng, êm ái, không đanh thép, chát chúa, chậm rãi như rót dầu qua lỗ đồng tiền… được hiển lộ ra thái độ nghiêm trang, đứng đắn, nhưng tình người qua nụ cười kín môi và đôi mắt hiền từ. Đôi mắt được biểu thị cho tâm hồn. Tâm hồn của những người trong Phật giáo và ngoài đời làm công tác giáo dục đều có cùng một tâm niệm thiết tha mong muốn các đối tượng nghe phải tiếp nhận lý nghĩa Đạo trong chủ đề mình đang nói, đang giảng, đang trao truyền, giáo huấn, chỉ giáo, khuyến cáo, vân vân… Tất cả đều là Đạo, có lý nghĩa riêng của nó, gọi chung là đạo lý có lợi ích cho con người về mặt vật chất và tinh thần.

Mặt vật chất là thi đỗ có bằng cấp kỷ sư, bác sĩ, v.v… là những giai cấp nhiều tiền, do thông đạt lý nghĩa trong bài học văn chương, thi phú, toán học, vật lý, khoa học… là những cái Đạo sinh sản ra vật chất. Người giảng nói lý của các Đạo ấy, là những thầy, cô giáo ở trường học.

Về mặt tinh thần, là tâm hồn luôn ở ngôi vị Chân, Thiện, Mỹ trong kiếp này và siêu lên các cõi Phật, cõi Trời ở kiếp sau do thông đạt lý và hành lý ở các Đạo Nhân, Thiên, Phật Đạo từ lời khẩu giáo của cha mẹ, sư trưởng, giáo thọ, thiện hữu tri thức, v.v… Đó là phần việc ở người được giáo dục.

Phần việc của người nói lời giáo dục bằng miệng là khẩu giáo. Thật sự miệng lưỡi nói ra lời, chỉ là công cụ của cái Đức và Đạo bên trong tâm ý, tức là tâm ý chỉ đạo cho miệng nói. Mặc dù lời nói lý đạo ở miệng lưỡi, nhưng tâm ý không có Đức và Đạo, thì lấy gì để nói. Cho nên ý giáo dẫn đầu chỉ đạo cho khẩu giáo. Khẩu giáo là điều kiện tiên quyết ắt phải có đối với xã hội con người nói chung để thăng tiến lên có một đời sống trật tự thịnh vượng trong an bình. Nói riêng trong Đạo Phật đối với hành giả tu tập để được có tâm tỉnh thức giác ngộ, mà khẩu giáo là phương tiện hữu hiệu nhất. Dù cho kinh Phật, sách vở thánh hiền có chứa đựng nhiều đạo lý đến đâu mà không có người thông đạt đạo lý nói ra lý Đạo, lý Đức, thì hành giả tu tập, kẻ hậu lai ở đời, lấy gì để hiểu đạo mà tu niệm, lấy gì để an dân, trị quốc!

Miệng nói lời giáo dục cho tất cả mọi người của các bậc trưởng thượng thế gian (ông bà, cha mẹ, giáo sư, cán bộ văn hóa) và các bậc giáo thọ, pháp sư, sư trưởng trong Đạo Phật đều cùng giống nhau về phần Đức và Đạo thế gian (nhân bản). Bởi vì các bậc giáo thọ, giáo sư (Tăng sĩ và Cư sĩ), pháp sư, sư trưởng trong Phật giáo vốn đã là người thế gian có qua trường đời học hành văn chương, thi phú dân tộc, đạt được văn bằng văn hóa quốc gia.

Nhưng khi đã trở thành giáo sư, giáo thọ, pháp sư, sư trưởng (Tăng, Ni) trong Phật giáo, các bậc ấy được có thêm cái Đức, cái Đạo của Đạo Phật. Do vậy sư trưởng nói lời chỉ giáo cho các môn đệ trong tông phái, bổn sư giáo huấn cho đệ tử, giáo thọ, giáo sư (Tăng và Cư sĩ) giảng dạy Phật pháp cho các Tăng, Ni sinh, pháp sư thuyết kinh cho Phật tử, nam nữ bạn đạo pháp đàm cho nhau. Tất cả đều lấy cái Đức của Phật giáo (ý giáo) làm đầu cho nền tảng khẩu giáo để khiến cho cái tình cảm nhân bản, tình đạo trong sáng của người nghe bừng dậy mà thấy được dấu Đạo trong lời khẩu giáo của người nói do Đức là ánh sáng của Đạo. Sau đó người nghe khởi tâm y giáo phụng hành.

 

Tuy nhiên, người trong Phật giáo làm công tác giáo dục bằng khẩu giáo, cũng có lúc sử dụng Đức và Đạo của thế gian vào khẩu giáo bài pháp đang nói, như lời thơ của các thi sĩ, ca dao, tục ngữ, vài tư tưởng văn hóa dân tộc có liên quan đến bài pháp đang nói để làm cho cái lý Đạo ở bài pháp được vững mạnh, sáng tỏ thêm. Đó là phương tiện dĩ Đức, dĩ văn thế gian và Phật giáo để tải Đạo Phật giáo vào lòng người đang nghe. (Đức và Đạo thế gian và Đạo Phật đã được nói ở phần ý giáo). Nhờ đó người nghe (cử tọa) có sở tri chướng đến đâu do có sở học cao của thế gian, cũng phải quay về Đạo Phật vì đã cảm nhận được cái lý Đạo, đức tính từ bi, hiền hòa, đôn hậu của người đang nói (khẩu giáo) bài pháp.

 

Vì thế khẩu giáo trong Đạo Phật đồng loạt cùng lúc được xây dựng trên hai Đức từ bi, trí tuệ Bát Nhã ba la mật (trí tuệ Phật). Hai Đức ấy được luôn hằng chuyển trên dòng tâm hướng về tiêu điểm “Duy tuệ thị nghiệp” Đạo giác ngộ giải thoát sinh tử cho mình, cho mọi người các cấp một cách bình đẳng, không bị lệ thuộc bất cứ cái lực nào của ngoại nhân, nếu không nói là chỉ có một tấm lòng tha thiết mong sao cho tất cả mọi người đang có mặt tại lớp học, đạo tràng, ai cũng được thấy rõ lý Đạo của bài pháp mà tu tập để được giác ngộ giải thoát. Tâm niệm của người giáo thọ, pháp sư, giáo sư nói pháp, diễn giảng giáo khoa Phật học, có tấm lòng thiết tha mong muốn cho tất cả mọi người đang nghe lời khẩu giáo của mình, ai cũng phải tỏ ngộ lý Đạo như vậy, được gọi là thuyết tâm. Mặc dù miệng nói ra lời pháp, nhưng ý giáo bên trong là chủ lực chỉ đạo cho miệng nói. Bởi vì, như đã nói ý giáo là cái Đức, trong nó được chứa đựng lục độ ba la mật, là 6 phép qua bờ giác ngộ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ Phật) bởi cái tâm người nói lúc nào cũng vượt thoát mọi ý niệm về ngã, tức là vô ngã.

Do vì cái lực của ý giáo chỉ đạo cho khẩu giáo nói năng như chánh pháp thân giáo là im lặng như chánh pháp.

 

3. THÂN GIÁO

Thân giáo, nghĩa là giáo dục con người bằng thân tướng, tức là không nói hay chưa nói, mà các đối tượng sống chung, làm việc cùng cơ sở hay mới vừa gặp đã sanh tâm tôn kính lễ bái, chào hỏi một cách trịnh trọng, vâng lời, kính nễ và cả sợ nữa.

Thân tướng như thế nào mà những người cấp dưới hay mới gặp lần đầu mà đã sanh lòng tôn kính? Thân tướng ấy không phải là tấm thân cao ráo, xinh đẹp, các căn đầy đủ. Mà là bản thân nhỏ, thấp hay cao ráo được có trạng thái đứng đắn, trang nghiêm, chững chạc, thật lòng, cho nên lời nói ra điều gì đều chắc nịch như đinh đóng cột, hứa điều gì với ai luôn nhớ và thi hành, khi nhìn ai là nhìn thẳng vào mặt một cách chánh trực, khi đi là đi từng bước chững chạc, khi đứng là đứng ngay người, ngồi là ngồi đúng cách, nằm là nằm tế nhị và kín đáo, ăn thật chậm rãi, ít nói, thường im lặng hơn là nói, khi nói là nói điều lợi ích cho người.

Tất cả những đạo hạnh nói trên được có nơi con người, là do từ ý giáo tạo nên, nói như ngạn ngữ Việt Nam có câu “Có văn có chất mới thật con người”.

 Những người được những đạo hạnh ở bản thân đó là ai? Chính là ông bà, cha mẹ, anh chị, chú, bác, cô, dì, cậu, mợ trong quyến thuộc, các giáo thọ, sư trưởng, bổn sư, giáo sư, các thầy, cô giáo, cấp chỉ huy, lãnh đạo tổ chức, ai được có Đức (ý giáo) thế gian và Đạo pháp trong lòng, là người ấy có Đạo hạnh ở bản thân một cách thường hằng suốt cả cuộc đời, gương mẫu cho các cấp dưới noi theo mà sửa mình, tu thân, tu tâm tích Đức qua thân giáo của các bậc trưởng thượng của mình, rồi mình sẽ là bậc trưởng thượng cho các thế hệ hậu lai.

 

Đức Hạnh


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn