Chùa Bảo Quang trên đà phát triển

07/11/201012:00 SA(Xem: 6522)
Chùa Bảo Quang trên đà phát triển


Chùa Bảo Quang Trên Đà Phát Triển


Thích Nữ Như Bảo


  “Văng vẳng nơi nao nhớ lạ lùng,

 Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

 Mái chùa che chở hồn dân tộc

 Nếp sống muôn đời của Tổ Tông”

 

 Lần cuối tại lớp học của chúng tôi, khi tôi mới 20 tuổi, Hòa Thượng Mãn Giác đang dạy, ngẫu nhiên ngài ngâm lên bốn câu thơ này, rồi ngài ra đi vĩnh viễn. Đến hôm nay, tôi có dịp qua đây, thoạt nhớ lại câu thơ này khi sinh hoạt an cư tại chùa Bảo Quang.

 Chùa Bảo Quang vừa khang trang, vừa tôn nghiêm, đứng sừng sững hiên ngang nơi vùng đất tự do tại xứ người. Thấp thoáng, hình bóng hai tu sĩ một cao một thấp ẩn hiện trong vườn hoa kiểng. Cuộc sống của hai thầy trò rất hài hòa, xây dựng lên ngôi Tam Bảo đầy đủ sắc và hương. “Hương thơm của hoa bay theo chiều gió, còn hương giới hạnh tỏa khắp muôn phương.” Một sự hy sinh vô vàn với đôi bàn tay khéo léo sáng tạo của vị trụ trì, suốt đời làm những điều cao cả theo tâm nguyện để cúng dường mười phương Chư Phật, cũng như đáp ứng cho bao trái tim nồng thắm của những Phật tử xa xứ tha thiết muốn có nơi nương tựa tinh thần cũng như muốn báo hiếu cho song thân và cửu huyền thất tổ. Cho nên Phật tử chùa Bảo Quang đã chung sức chung lòng và cả tiền tài đóng góp vào, cùng với thầy trụ trì hoàn thành ngôi già lam trang nghiêm này. Câu thơ mà Hòa thượng đọc lên hồi đó, hôm nay tôi nhận ra rất có ý nghĩa cho con Phật xa xứ. Nỗi niềm cô đơn và sự mất mát quá nhiều đối với họ, lại còn đối diện với nền văn hóa mới, pháp luật nghiêm minh. Thế nên chùa Bảo Quang cũng như bao nhiêu ngôi chùa khác xuất hiện để Phật tử có nơi nương tựa, đúng thực là “Mái chùa che chở hồn dân tộc, Nếp sống muôn đời của Tổ tông”.

 Hòa Thượng trụ trì nói: “Trước 2002, nơi này là nhà thờ chẳng phải nhỏ.” Tôi có cảm nghĩ, trong thời gian ngắn ngủi mà trở thành ngôi chùa Phật giáo, cũng là trung tâm văn hóa tâm linh rất lớn, có phải là chư Phật đã bổ xứ chăng? Tôi chẳng hiểu sao, mới tám năm Hòa thượng đã hoàn thành bản nguyện. Tôi qua đây có duyên gặp chùa, tìm lại được điều mà tôi hằng mơ ước. Tại những nơi như thành phố này, trừ các chùa lớn trên các triền núi lớn, rất ít nơi có chùa có không khí nhẹ nhàng, sống động, có văn hóa trong cuộc sống, có nghệ thuật trưng bày, có văn thơ… Vừa cổ kính vừa hiện đại, nhưng vẫn không thiếu phần kham khổ, vì có kham khổ mới là chùa. Đức Từ Phụ và các bậc tổ sư của chúng ta đều do khổ hạnh mà thành đạt. Việc làm vượt ra ngoài cuộc sống bình thường mới là có ý vị.

 Trong con người cao ráo của vị tu sĩ áo nâu này phải có một năng lực phi thường mới nhanh chóng hoàn thành sứ mạng, một bộ óc không đơn giản mới veû ra những hoa văn rất nhuyễn, một cuộc sống nghiêm túc đối phó với mọi tình huống trong chốn già lam một cách thông suốt, một trái tim nồng thắm đối với Phật và Bồ Tát, nên khi Hòa thượng cất giọng lên xướng lễ, dường như xuyên suốt tận trái tim của Bồ Tát, nên được quý Ngài chứng minh và độ trì, lòng thành được cảm ứng, Phật sự sớm viên thành. Hơn thế nữa, “Cánh cửa Không ta mở lối vào”, nhờ cửa Không mà người có năng lực phi thường.

 Trang nghiêm già lam là để cho bá tánh về an định tâm, vì đời sống thế gian có nhiều mối lo toan, khi về đến chùa nhờ oai lực của Bồ Tát cũng như giới đức trong sáng của vị trụ trì khiến cho chốn già lam thanh tịnh dễ đưa Phật tử trở về tâm an lạc nhẹ nhàng. Bồ Tát giới có nói: “Giới như đèn sáng lớn soi sáng đêm tối tăm, giới như gương báu sáng chiếu rõ tất cả pháp giới như châu Ma Ni giúp kẻ nghèo thoát khổ mau thành Phật.” Thật vậy, thần lực bi hùng của Phật và Bồ Tát cộng thêm giới đức trong sáng của những người trong chốn già lam khiến cho nơi ấy linh thiêng, sống động, dễ cảm hóa lòng người. Bao nhiêu Phật tử trên quê hương thứ hai này có niềm tin vững chắc đều nhờ vị trụ trì khéo hướng dẫn đưa đệ tử vào con đường giải thoát.

 Một tình thương bao la đối với hàng Phật tử tại gia, cũng như lý tưởng giải thoát chính mình và tha nhân, khiến người xuất gia tự nguyện rời bỏ đời sống xa hoa để học đạo, hành đạo giúp đời, nếu chưa thành Phật thì cũng được vào dòng Thánh. Thế nên trụ trì đúng nghĩa rất khó nhọc. Nếu không có năng lực vững vàng thì khó hoàn thành di chúc của Phật và chư vị Tổ sư, “Trụ pháp vương gia trì Như Lai Tạng”. Vì các pháp trên thế gian luôn luôn xoay chuyển thì tâm con người cũng duyên theo đó mà chẳng biết cách an trú. Có lần một Phật tử hỏi: “Thưa sư! Trên đời này có rất nhiều điều tác động vào thân mình, thì mình làm sao chống đỡ?” Tôi liền trả lời: “thì mình tu để có năng lực chống đỡ.” Ông ta hỏi tiếp: “Tu sao cho có năng lực?” Tôi trả lời: “Chúng ta tụng kinh để hiểu lý Đức Phật đã nói trong kinh, rồi hành trì hàng ngày, niệm Phật để định tâm cầu vãng sanh, trì chú để cho tiêu mòn nghiệp đã tạo trong quá khứ , sám hối để tiêu tội chướng, ngồi thiền để đạt được tâm trong sáng của mình và luôn quán tất cả pháp không thật để tâm bớt chấp, thế thôi.” Ông ta rất vui, từ biệt mà đi. Tôi gọi lại hỏi: “Chú là đệ tử chùa nào vậy?” Ông ta trả lời: “Con là cháu gọi thầy Lê Mạnh Thát bằng cậu.” Tôi cười nói: “À, thì ra là vậy.”

 Tr lại chùa Bo Quang cách tôn trí thờ Phật và Bồ Tát rất trang nghiêm, từng hoa văn chạm trổ rất sắc sảo, từng cây kiểng, cành sen tô lên vẻ đẹp của thiền môn. Hòa thượng biết vận dụng trí tuệ và năng lực của mình để trang nghiêm cho đạo, phát triển Phật giáo mọi mặt. Còn tôi thì chỉ biết tò mò, hiếu kỳ về văn hóa tâm linh mà thôi. Vì ở Việt Nam chùa rất nhiều,có khi náo nhiệt có khi thanh vắng, cũng đủ cho Phật Tử qua lại tu niệm lắm rồi, nên tôi không mấy thiết tha, nhưng tránh trời không khỏi nắng, sư huynh tôi đang gọi tôi về chùa thầy, ngôi chùa mà tôi sắp tu sửa. Đây cũng là số phận vậy.

 Hôm nay tôi rất ngạc nhiên trước đô thị xa hoa mà có người hành đạo khác thường, hoàn thành Phật sự đúng lúc đúng nơi. Phật tử Bảo Quang có phước duyên được sống trên đất nước tự do, có phong cảnh đẹp, không khí trong lành, gặp được vị thầy xứng đáng, nên cố gắng học hỏi tu tập để chúng ta có một thế giới an bình, đầy hoa thơm cỏ lạ nơi nội tâm và có dịp khám phá những điều kỳ diệu trong đó. Nếu hiện tại ta không xây dựng Niết Bàn thì làm gì có Niết Bàn ở cõi lai sanh, cho nên tôi nói với thầy Nhuận Hùng: “Thầy có phước lắm mới gặp được Hòa thượng và làm được điều xứng đáng cho đạo.” Thầy cười nói: “Thầy trò tôi nhọc lắm cô ơi!” Tôi nói: “Nhọc nhằn vất vả nhưng lại được việc lợi ích cho đạo và tha nhân.” Rồi tôi nhắc tiếp hai câu thơ của một thiền sư:

  “Chẳng phải một phen sương lạnh buốt

 Hoa mai đâu dễ ngát mùi hương”

Thật vậy, cái gì thành công có ý nghĩa cũng đổ mồ hôi nước mắt – ông cha ta đã nói, có khi tính mạng cũng không còn. Thế nhưng trên đường cầu đạo phải trải qua nhiều chông gai và thử thách mà người xuất gia nào cũng phải vượt qua. “Đường lên núi thế nào phải hỏi người đã từng đi qua.” Người trong cuộc mới biết. Xuất gia là đi ngược dòng đời, người thế gian muốn xuống núi để không nhọc sức trèo, còn người tu thì muốn trèo lên đỉnh để nhìn xuống đồng bằng quan sát cảnh vật; người đời thì muốn chèo thuyền xuôi dòng để khỏi ra sức chèo, còn người xuất gia muốn chèo ngược dòng về tận nguồn; người thế gian thì muốn hạnh phúc ở đời, còn người xuất thế muốn hạnh phúc an lạc trong tâm; người thế gian muốn ăn mặc sang trọng đủ mầu sắc, hưởng đủ mùi vị, người xuất gia chỉ đơn giản trong bộ áo nâu sòng, cơm dưa đạm bạc. Làm được như thế mới chuyển hóa được Phật tử đến chùa học đạo, và đây cũng là hạnh của Phật và chư Tổ, nhờ quý ngài khổ hạnh mà đạt đạo vậy.

 Trong kinh Viên Giác Đức Như Lai nói: “Từ khi mới phát tâm cho đến khi thành vô thượng Bồ Đề, ở khoảng giữa ta chưa từng gián đoạn phá tu, gọi là “đẳng trì”.” Còn chúng ta thì chợt mê chợt ngộ mà chưa chuyển được vậy.

 Nếu như toàn thể chúng ta ý thức được rằng: cuộc sống chỉ vay mượn mà thôi, thì ai ai cũng giác ngộ hoặc nhiều hoặc ít. Vì ngày ba bữa ta vay mượn cơm nước và không khí để nuôi sống thân mạng, rồi ta lại trả ra lại, nếu như hơi thở ta hít vào mà không thở ra hay thở ra mà không hít vào thì mạng sống không còn – các loài vật cũng vậy, cho đến cỏ cây, hoa lá cũng phải mượn ánh nắng mặt trời, không khí, nước và phân bón để nuôi dưỡng, ngày này qua ngày khác, đến khi chúng chết đi thì lại trở về cho đất. Tất cả vật hiện hữu trên thế gian đều như thế. Các pháp luôn chuyển động, không gian thì đứng yên, tâm vọng ta quay cuồng theo các pháp, chứ chân tâm thường trụ thì sáng rỡ, bao trùm và tĩnh lặng. Nếu ta không nhận rõ thì ta không thể vượt xa được.

 

Ở đây, thầy Thanh Trí Cao đã vượt rất xa, mà trực giác tôi đã nhận biết được. Khi tôi chưa làm bài thơ “Con cứ ngỡ!” tôi có nói với thầy rằng: “Chắc thầy đã ngộ rồi.” Thầy trả lời, “Không đâu.” Đến lúc mãn hạ có thì giờ về đọc thơ thầy, tôi cảm nhận cuộc sống nội tâm của thầy vượt rất xa, ra ngoài khái niệm đối đãi. Thật là “Trong ẩn hạnh Bồ Tát ngoài hiện làm Thanh Văn” (trong tâm thì tu trong sáng, bên ngoài thì ngay thẳng mực thước). Cho nên nhiều người đều sợ thầy. Một câu thơ của thầy do nhạc sĩ phổ nhạc, khi ca sĩ hát lên, nếu người biết nghe thì sửng sốt và dừng lại, “Sát na là cảnh thiên thu”. Đó là “Đỉnh núi cao hay tình người cao, cánh cửa không ta mở lối vào”. Tôi xin phép thầy muốn đổi lại một chút, nếu thầy đồng ý. “Đỉnh núi cao hay trí người cao, đến cửa không ta mở lối vào.” Vì mở được cửa Không là nhờ trí chứ không phải “Bi” (tình thương); tôi muốn Bi này lan rộng cùng khắp, chan hòa cùng vũ trụ, bao trùm khắp bốn loài noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh và cả loài có tưởng, vô tưởng, đều cho họ vào vô dư Niết Bàn. Cửa Không không phải không trơn mà nó rất linh động mới mẻ, tự nó mới chứ chẳng phải ai làm cho mới, làm cho nó sống động cả, nên có câu: “linh linh bất muội liễu liễu thường quang”. Hòa thượng Chơn Thành ngộ được lý Bát Nhã, ngài nói: “Cuộc sống chúng ta luôn sản xuất rồi tiêu thụ, tiêu thụ rồi sản xuất, chẳng khác nào Bát Nhã nói: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc tức là Không, Không cũng tức là Sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.” Ngài đã phối hợp giữa kinh và lẽ sống thật là ý vị.

 

Cuộc sống thật của chúng ta đồng hành với chúng ta khi chết, thế mà ta chẳng chịu gắn bó, lại đi gắn bó với cái vui tạm ở thế gian, để rồi mang nghiệp vào thân, chịu khổ đau ở kiếp lai sinh. Cho nên Phật nói trong kinh Pháp Hoa: “Ta thương xót chúng sanh nghèo cùng không phước huệ, ở trong đường sanh tử chưa có niệm thoát ra, như trâu Mao mến đuôi, đui mù không thấy biết.” Thật vậy, ngài thương chúng ta nghèo cùng không phước huệ, chứ không phải thương ta vì không có cơm ăn áo mặc. Con trâu Mao nó rất quý cái đuôi của nó, nếu mất cái đuôi nó rất đau khổ, chẳng khác gì chúng ta đánh mất một cái gì quan trọng trong đời mình. Ngài còn nói: “Chúng sanh vô minh dầy đặc nên làm chúng sanh mãi, còn Ngài thì đã nhổ sạch được cội gốc vô minh nên giác ngộ thành Phật.” Giác ngộ như người tỉnh giấc chiêm bao, ví như khi ta còn ngủ say nằm mộng thấy tất cả núi sông, đất liền, nhà cửa, ruộng vườn, lâu đài xinh đẹp, nhưng đến khi thức giấc cảnh mộng trong chiêm bao không còn, khi ấy ta nhận ra đó là chiêm bao chứ không phải là cảnh thật. Cho nên chúng ta đến chùa tụng kinh, niệm Phật, trì chú, lễ sám, ngồi thiền và học hỏi để ta quét sạch vô minh, cho chân tánh sáng suốt hiển bầy.

 

Ở đây, con mong Hòa thượng sống thật lâu, thật khỏe, độ Phật tử thật nhiều, chúng tăng đông hơn để phục vụ cho sự nghiệp chung. Ngài luôn luôn làm cây đại thọ che mát cho chúng sinh để được vào vô dư Niết Bàn ngay hiện tại (an lạc khi còn thân này và vô dư Niết Bàn ở cõi lai sanh (Niết Bàn khi xả bỏ báo thân). 

 

 Mùa Vu Lan PL 2554-2010

 

 Thích Nữ Như Bảo

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn