Quan niệm tu hành của Phật giáo Đại thừa - Thích Trí Châu

25/09/201012:00 SA(Xem: 11157)
Quan niệm tu hành của Phật giáo Đại thừa - Thích Trí Châu


3_phat-content Hôm nay tôi xin chia sẻ về quan niệm tu hành của Phật Giáo Đại Thừa, trình bầy về cơ duyên tu trì, điều kiện, phương pháp và các nấc thang đưa đến quả vị Giác Ngộ được nói tới trong Thành Duy Thức Luận, kinh Lăng Nghiêm và kinh Lăng Già Tâm Ấn.



Theo Duy Thức Học thì thế giới mà chúng ta đang hiện hữu là một thế giới hiện tượng và chỉ là một sự chuyển biến nơi tâm thức. Căn bản của tâm thức là thức A lại gia, là nơi chứa đựng tất cả mọi hạt giống chủng tử, những nghiệp nhân mà chúng ta đã tạo tác ra từ thuở vô thủy cho đến bây giờ. Các chủng tử này chuyển biến, tăng trưởng tiềm ẩn cho đến khi hội được đầy đủ nhân duyên thì hiện khởi ra một loài nào đó trong tam giới. Hiện tại đây chúng ta mang hình hài của con người sinh sống trên trái đất này mà Phật giáo gọi là cõi ta bà.



Đã có thân xác là chúng ta bị vận hành bởi luật nhân quả, bởi thập nhị nhân duyên, bởi sanh lão bệnh tử mà luân hồi trong sáu cõi. Tuy thế chúng ta vốn sẵn có cái khả năng tu tập để thoát ra khỏi các sự vận hành đó. Sự tu tập này có những điều kiện căn bản cốt yếu và có những thứ lớp địa vị trước khi đạt đến một sự giải thoát hoàn toàn, là quả vị tối thượng mà ta thường thấy nói trong các kinh điển như là Giác Ngộ, Chân Tâm, Phật Tánh, Chân Không Diệu Hữu, Chánh Đẳng Chánh Giác, A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề và rất nhiều danh từ trừu tượng khác. Tất cả các danh từ mà ta tạm dùng để diễn tả cái quả vị tối thượng bồ đề thật ra không thể gọi được là quả vị nào cả vì cảnh giới này chỉ thật sự được trực nhận khi ta đã kinh nghiệm được một sự đột biến nơi tâm thức. Cảnh giới này vượt khỏi tầm suy nghĩ và tưởng tượng của con người nên không thể dùng lời nói để hiển bày ra được. Không thể nào có thể dùng ngôn từ, một phương tiện có giới hạn để diễn tả một cảnh giới vô giới hạn được. Tuy nhiên xin hãy tạm chấp nhận là có cái cảnh giới vô thượng hầu có thể bàn luận và học hỏi.



Điều kiện tiên quyết là phải phát bồ đề tâm, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa độ chúng sanh, nhất quyết phát nguyện đời đời kiếp kiếp tu trì theo đường lối của bậc giác ngộ đã chỉ dậy, giữ tâm không lùi xụt, kiên trì dũng mãnh tu tập cho tới khi đạt thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, có được sự tự tại vô ngại, một năng lực bất khả tư nghì, tùy duyên ứng hiện hóa độ chúng sanh.



Kinh Lăng Nghiêm có nói đến 57 bậc thang dẫn đến Phật quả. Những bậc đó là: càn huệ địa, thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, tứ gia hạnh, thập địa, đẳng giác và diệu giác.



Khi mới phát tâm tu hành, căn cơ còn non nớt, sự hiểu biết còn nông cạn nên địa vị này gọi là càn huệ địa. Càn tức là nông cạn, khô cằn ví như mảnh đất mới được vun sới chưa được tưới tẩm nhiều.



Sở dĩ hành giả phát tâm tìm hiểu và tu hành pháp đại thừa là vì trong A lại da thức vốn sẵn có hạt giống đại thừa gọi là chủng tánh đại thừa. Khi hạt giống này được vun sới đầy đủ sẽ tăng trưởng và vươn lên từ nơi căn bản thức khiến ta cảm thấy thao thức muốn tầm cầu học đạo, khiến ta có cơ duyên gặp được thiện tri thức hướng dẫn, khai mở tâm thức khiến ta tin tưởng ở pháp đại thừa, hiểu được sự như huyễn của vạn pháp, xa rời được sự chấp trước, xa rời được vọng tưởng, tin tưởng vào đạo vô thượng mà phát bồ đề tâm, tu tập thăng tiến qua các địa vị từ thập tín lên đến thập địa, rồi đẳng giác và diệu giác.



Trong kinh Lăng Nghiêm, A Nan sau khi được Phật cho Văn Thù Sư Lợi dùng thần chú cứu thoát khỏi chú thuật của Ma Đăng Già, đến trước Phật khóc lóc, giận mình từ vô thủy đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều mà chưa có được định lực rốt ráo, cầu xin Phật chỉ cho các pháp Xa Ma Tha, Tam Ma Đề và Tam Ma Bạt Đề là những phương tiện căn bản để thành đạo quả của chư Như Lai.



Xa Ma Tha, Tam Ma Đề và Tam Ma Bạt Đề ở kinh Lăng Nghiêm phải được hiểu theo thứ tự là Chỉ, Quán và Thiền na. Chỉ là pháp tu định của tiểu thừa, giữ cho tâm được yên, chẳng hạn như pháp chú tâm vào sự đếm hơi thở, chú tâm vào hơi thở dài hoặc ngắn, chú tâm vào bụng phình lên hay xẹp xuống, chú tâm vào đầu một que nhang đang cháy, v.v... Quán là pháp quán tưởng của tiểu thừa, chẳng hạn như quán về mầu sắc xanh, trắng hoặc vàng, quán nước, quán ảnh tượng của Phật hay các vị bồ tát, quán hình ảnh hoa sen, quán các chữ phạn như án hay lam, ngũ đình tâm quán (sổ túc, bất tịnh, từ bi, nhân duyên, 18 giới), quán tứ niệm xứ, quán nhân duyên, v.v...Thiền na còn gọi là thiền hay thiền định là phương pháp của đại thừa bao gồm cả chỉ lẫn quán.



Bàn luận sâu về các pháp Chỉ và Quán không phải là phạm vi của bài này. Ở đây chỉ muốn nhấn mạnh rằng muốn đạt đến cảnh giới Chánh Đẳng Chánh Giác không thể loại bỏ Thiền Định. Phàm phu có nhiều trình độ và tâm thức khác nhau nên các vị Tổ Sư giác ngộ đã dùng phương tiện thiện xảo, đưa ra nhiều phương pháp khác nhau cho hàng đệ tử thực hành nên Phật giáo có nhiều pháp môn và tông phái. Thoáng qua thì các pháp môn và tông hình như có vẻ khác nhau, đôi khi còn đối chọi lẫn nhau nhưng thật ra bản chất vẫn không khác vì tất cả đều có mục đích chuyển hóa tư tưởng hạ liệt của phàm phu thường tình hướng đến một tâm thức cao hơn, thích hợp cho sự tu tập. Hiện nay những tông phái đại thừa chính thường được nói tới là Tào Động, Tịnh Độ, Mật Tông và Lâm Tế. Mỗi tông phái có chủ trương, đường lối, tông chỉ và cơ phong riêng. Tùy theo cơ duyên và trình độ, theo tông phái nào thì phải giữ tông chỉ và cơ phong của tông phái đó.



Tào Động cũng gọi là thiền mặc chiếu tức là phương pháp tọa thiền giữ tâm tĩnh lặng, biết các vọng niệm khởi lên mà không để vọng niệm lôi cuốn.



Tịnh Độ dùng câu Nam Mô A Di Đà Phật còn gọi là lục tự Di Đà để giữ tâm được an định.


Mật Tông dùng lục tự chân ngôn Om Ma Ni Bát Mê Hồng để an trụ tâm.


Lâm Tế thì khán thoại đầu, hiện nay câu thoại đầu thông dụng được thực tập trong các thiền đường bên Trung Hoa là câu Niệm Phật Là Ai?



Mục đích chính là làm sao cho tâm được tĩnh lặng. Tâm càng định thì tánh giác càng phát triển. Khi tâm tư đã lắng đọng thì những sự ồn ào hay huyên náo bên ngoài không còn ảnh hưởng nhiều đến sự định tâm của chúng ta, các vọng tưởng cũng ít khởi lên, và ta sẽ từ từ cảm giác được những chuyển biến bên trong. Thoạt đầu là những vi vu có thể là do những chuyển động của các luồng khí huyết lưu chuyển trong châu thân, đi lên não bộ, cảm ứng đến các giây thần kinh. Rồi tánh giác phát triển tinh tế hơn khiến ta cảm nhận được những cảnh giới ở xa, ở trong màn đêm; đó là lúc tánh giác phá được những ngăn ngại của sắc ấm.



Sau đó tánh giác phát triển thêm khiến hành giả thoát khỏi các ngăn ngại của thọ, tưởng, hành và thức ấm, cảm nhận được tất cả những gì ta chưa từng cảm nhận được, thấy được sự vận hành của tâm thức, vượt ra ngoài tầm giới hạn của cả không gian lẫn thời gian.



Chính sự phát triển của tánh giác này sẽ đưa ta đến đạo quả vô thượng. Sự phát triển tánh giác này là sự phát triển âm thầm trong vô thức hay tiềm thức, là cái nhân không tạo tác, là cái nhân vô vi sẽ hướng chúng ta đến quả giác ngộ vô vi, một sự giác ngộ viên mãn, một cảnh giới không cảnh giới, một chân không vô vi.



Duy Thức Tam Thập Tụng gọi cái thế giới của bậc đại giác ngộ là Vô lậu giới, một thế giới không còn nhiễm ô. Hãy thử phân tích bài kệ cuối của Tam Thập Tụng:


Thử tức Vô Lậu Giới
Bất tư nghì thiện thường
An lạc giải thoát thân
Đại Mâu Ni danh pháp.



Dịch là:


Đấy là cõi Vô Lậu
Thiện Thường chẳng nghĩ bàn
Thân giải thoát an vui
Gọi là Đại Mâu Ni




Vô Lậu Giới là cõi vô lậu thanh tịnh của bậc Đại Giác Ngộ. Trong cõi này mọi phiền não nhiễm ô đều đã được hoàn toàn diệt trừ, không còn một tí tật xấu và sự mong cầu nào vì không còn dính mắc vào danh và lợi. Tâm thức hoàn toàn thanh tịnh, viên mãn và phổ chiếu.



Thành Duy Thức Luận nói Bậc Đại Giác Ngộ có năm đặc tánh:


1) Bất khả tư nghì vì là một chuyển thức nội tại, một sự đột biến bên trong tâm thức nơi vị bồ tát. Sự đột biến này rất siêu việt và thâm sâu, vượt khỏi trí tưởng tượng của phàm phu.


2) Thiện vì toàn là pháp trong sạch (bạch tịnh), không có mảy may dấu vết của nhiễm ô, đồng với pháp giới thanh tịnh, xa lìa khỏi sanh diệt, khi mà bốn thức đã chuyển thành bốn trí. Tiền ngũ thức thành Thành sở tác trí, Ý thức thành Diệu quan sát trí, Mạt na thức thành Bình đẳng tánh trí, A lại da thức thành Đại viên cảnh trí (Bạch tịnh thức).


3) Thường vì không cùng tận, không biến đổi, không sanh không diệt, đồng với pháp giới thanh tịnh.


4) An lạc vì xa lìa các chấp thủ, không còn bị bức não nên thường làm an lạc mọi loài chúng sanh.



5) Giải thoát vì đã xa lìa hẳn khỏi phiền não chướng và sở tri chướng, vượt thoát khỏi các nghiệp tạo tác sanh tử luân hồi. Vì những đặc tính thanh tịnh tịch tĩnh, thiện thường, giải thoát và an vui siêu việt trên tất cả sự hiểu biết của phàm phu thường tình nên bậc Giác ngộ cũng được gọi là Đại Mâu Ni, Đại Tịch Tĩnh hay Đại Tịnh Mặc. Để kết thúc bài này, xin hãy đọc một đoạn trong kinh Lăng Già Tâm Ấn:


"Này Đại Huệ, do các công hạnh của đại từ bi, phương tiện thiện xảo và vô công dụng, vị bồ tát quán sát tất cả các chúng sanh, biết rằng tất cả đều như huyễn, như những bóng hình không phải sanh ra vì một nguyên nhân nào; và xa hơn nữa, vì biết rõ thế giới không hiện hữu ngoài tâm thì vị bồ tát đó hướng đến một đời sống vô tướng. Từ từ đưa tâm thức lên các địa vị cao hơn, vị ấy chứng được cái Tam Ma Địa trong đó vị ấy hiểu được rằng ba cõi chính là tâm. Cái Tam Ma Địa mà vị ấy đạt tới gọi là Như Huyễn Tam Ma Địa. Sau đó vị ấy xa rời mọi biến kế, kiện toàn trí tuệ, biết được tánh vô sanh của mọi sự vật và nhập được vào cái Tam Ma Địa gọi là Kim Cương Dụ Định và đắc được Phật thân. Luôn trú trong sự như như của vạn pháp, đắc được mười năng lực, sáu thần thông và mười sự tự điều ngự mà tùy duyên hóa hiện. Này Đại Huệ, có được các phương tiện thiện xảo, vị ấy sẽ đến được tất cả các quốc độ của Phật; xa rời mọi triết thuyết, xa rời các Tâm thức, Mạt na thức và Ý thức, vị ấy sẽ chứng nghiệm sự Đột Biến bên trong chính mình và thứ lớp đạt đến Như Lai thân."



Thích Trí Châu
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn