Tâm Là Gì?

09/06/201012:00 SA(Xem: 11266)
Tâm Là Gì?

Con người thường hay khám phá hoặc tìm hiểu những gì vô hình tướng...và thường hay hỏi ngược lại. “Con người thật của con người” đó là gì? Có phải chăng đó cái Tâm hay không?

Theo như Duy Thức học trong giáo lý Phật Đà Tâm còn gọi là Ý. Bản thân máu thịt con người không có tâm ý hiện hữu trong đó, thì chỉ là một khối thịt vô tri, vô xúc, gọi đó là chết. Ngược lại là sống khi tâm ý hiện hữu bên trong thân người, nên tâm ý gọi là đà sống của con người. Từ chỗ này cho ta hiểu thêm chữ sống là biết. Nói theo ngôn ngữ Trung Hoa là Thức, tức là biết. Cho nên tính chất của Tâm Ý là nhận biết, dù cho bản thân con người đang còn tươi tốt hay bất động tan rã, cái biết của Tâm Ý vẫn còn, không mất. Do vậy, chữ Tâm Ý được đi cùng với chữ Thức, gọi là Tâm Thức, Ý Thức.
Tính chất biết của Tâm Ý được ở hai trường hợp: Một là thanh tịnh trong sáng, hai là ô nhiễm đen tối thường gọi là Tâm vô minh.

Tâm thanh tịnh trong sáng của chúng sinh, được đức Phật xác định đó là Phật tánh, là Như Lai tạng, đúng như lời Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Phật tánh là tánh thường hằng thanh tịnh, vắng lặng tuyệt đối, nên không sanh không diệt, không luân hồi. Nhưng sở dĩ chúng sanh bị sinh tử luân hồi là do bị vô minh, chất ô nhiễm bao phủ Phật tánh. Tâm Ý bị ô nhiễm, vô minh bao phủ dày đặc đen tối đó, được Lăng Già thay vào bằng cụm từ Thức A-Lại-Da để biểu thị cho cái Tâm Ý con người bị mất tánh trong sáng, bị vọng động, bị ô nhiễm. Cho nên con người thật của con người, một là con người có tâm Phật thật sự, hai là con người có tâm Atula, ngạ quỷ, súc sanh thật sự.

Con người có tâm Phật thật, đó là tâm vô ngã, không còn vọng động, không còn mọi ý niệm cực đoan, không cố chấp, không nghi ngờ, không bực tức vì lời chê, không vui sướng được nghe lời khen, vân vân…

Nói rõ hơn, người có tâm Phật thật không còn chứa đựng những thứ vô minh phiền não trong tâm, luôn luôn đuổi những thứ khách trần đó ra khỏi ngôi nhà tâm linh Như Lai của mình. Ai mà còn chất chứa những thứ khách trần ô nhiễm đó trong lòng, chưa phải là người Phật Tử.

Người có tâm Phật thật, nhất định trên vận hành tu tập đều tự giác đưa tâm mình an trú trong chánh niệm, tỉnh thức một cách thường trực không gián đoạn, không cần ai nhắc nhở, dù ở hoàn cảnh đầy hạnh phúc hay bị nhiêu khê, tâm vẫn không bị mất tánh giác, tỉnh thức. Nói như duy thức học, tính chất của A Lại Da là hằng chuyển chứ không bất động như sỏi đá. Hằng là không gián đoạn. Chuyển là biến chuyển không ngừng. Tuy biến chuyển như vậy, thức A Lại Da vẫn luôn luôn là một dòng sinh hoạt linh động liên tục. Vừa liên tục, vừa thay đổi, đó là sức sống của muôn loài hữu tình nói chung, sức sống con người nói riêng. Sức sống ở đây chính là sức sống của Tâm Ý. Sức sống của Tâm Ý trong bản thân máu thịt con người hiện tại như thế nào, qua bên kia cõi chết, nó như thế ấy, không khác, đúng theo quy luật: tất cả nghiệp nhân thiện, ác của đời này là quả báo nghiệp của đời sau. Nói một cách khác, con người hiện tại có tâm ý Phật thật là năng lực thác sinh vào các cõi Phật. Tâm ý có tánh trời thật, người thật, Atula, địa ngục, ngả quỷ, súc sanh thật sẽ bị thác sinh vào các cõi ấy sau khi chết.

Tất cả tâm tánh thật của con người nói trên, tánh nào nhiều nhất có trọng lượng cao nhất, nó nổi lên trên, nó đè bẹp các tánh khác nằm dưới đáy kho tàng A Lại Da hay bị tống khứ ra ngoài do tính chất của A Lại Da là hằng chuyển. Cho nên tâm vô thường, luôn thay đổi. Tâm của phút trước khác với tâm của phút sau. Phút trước là Phật, phút sau là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ngược lại, cứ như thế mà xoay vần luân hồi. Chỉ trong một vài phút hiện tại thôi, tâm con người bị trôi lăn vào 6 cõi chúng sinh.

Nhờ tính chất của tâm luôn vô thường biến chuyển không gián đoạn đó, mà người Phật tử có thể sử dụng tâm ý của mình, làm chủ tâm mình, bắt nó phải vừa thải hồi những chủng tử ô nhiễm xấu ác ra khỏi tâm thức, vừa ngăn ngừa không cho các chủng tử xấu ác ô nhiễm sẵn có trong tâm tái hiện hành trổi dậy. Cũng như vừa tiếp tục cho vào tâm thức những chủng tử thanh tịnh trong sáng. Cứ như thế mà thực hành một cách thường xuyên. Thì nhất định, một giờ nào đó, ngày nào đó, tâm quý vị sẽ bừng tỉnh giác ngộ. Từ đó, con người chúng ta là con người Phật thật. Không Phật, cũng Bồ Tát. Không Bồ Tát cũng Thanh Văn, Duyên Giác. Không Thanh Văn, Duyên Giác, cũng Trời, Người.

Thật sự, nếu chúng ta quyết tâm thực hành đúng đắn những phương pháp vừa trình bày để chuyển hóa tâm vô minh, ô nhiễm của ta thành thanh tịnh, trong sáng suốt trên vận hành của đời sống thực tại hôm nay, chúng ta được có ngay con người Phật thật rồi. Có ngay Phật thật trong tâm trong lúc còn sống mới là quan trọng. Bởi vì quả báo hiện tại của kiếp này sẽ là quả báo của đời sau. Cho nên chư Tổ mới nói: Tự tánh Di Đà có ngay trong tâm khi đang niệm Phật tu Tịnh Độ, đúng với câu “Cực Lạc là đây, không đâu xa”. Tịnh Độ có ngay trong Ta Bà. Tịnh Độ có ngay trong thế gian. Tịnh Độ có ngay trong lòng ta. Niết Bàn có ngay trong tâm ta khi tâm ta hết vọng động. Hay nói khác hơn “Vô ngã là Niết Bàn”, chính là lúc những ô nhiễm, vô minh phiền não trong tâm chúng ta đã và đang tuần tự bị rục rữa lặn chìm, bị ra khỏi ngôi nhà tâm linh do chúng ta quyết tâm tống khứ chúng, vì chúng là những khách trần phàm tục ở đậu. Cho nên đã đến lúc cần phải đuổi hết chúng ra khỏi ngôi nhà tâm linh của ta. Chẳng những đuổi hết ra, mà còn ngăn chặn, không tiếp rước khách trần mới nữa vào nhà, dù cho khách trần đó cao thượng, trân quý đến đâu, vẫn không tiếp vào. Nếu không nói đây là thời điểm kiết thất, Phật thất trong tâm một cách thường xuyên không hạn định suốt trên vận hành quyết tâm buông xả tất cả vô minh, phiền não, ác trược, ngã mạn ra khỏi tâm thức.

Nói rõ hơn, Phật tử chúng ta ai là người đang tu học, thực tập Phật pháp cho việc giải thoát sinh tử ở mai sau, không thể không kiết thất Phật thất trong tâm một cách thường xuyên. Tức là tâm Phật thất chứ không phải bản thân Phật thất, cho nên mặc dù bản thân hiện hữu giữa cõi đời thực tại đầy muôn mặt ô trược cho việc mưu sinh cuộc sống và hiện hữu ở ngoại điện thiền môn đầy thị phi phiền não cho việc tu tập Phật pháp. Nhưng tâm ta không bị lay động, không phân biệt, không cắt xén, không khái niệm, không nói thầm, không định danh, không dán nhãn đối tượng, luôn luôn an định tỉnh thức. Tâm an định tỉnh thức như vậy đừng nghĩ rằng là tâm bi quan, chán đời, ủ dột. Ngược lại rất là trong sáng tinh anh, thấy biết tất cả thực tướng của vạn hữu là vô ngã, gọi là thấy như thật. Tâm ta được an định trong sáng, tinh anh như vậy là do bảy quan năng xúc giác của ta đã được thuần thục an nhiên tịnh mặc trước các sắc trần thị phi tại thế gian hay ngoại điện thiền môn. Nên chi tâm thức bên trong cũng theo đó mà an định, thức tỉnh, không vọng động. Đó là tâm Phật, là người có Phật thật trong tâm.

Qua lời lý giải về người có tâm Phật thật vừa rồi, mỗi người Phật tử chúng ta, nếu thật sự quyết tâm tu tập Phật pháp để được có tâm thanh tịnh trong sáng mà giải thoát, chúng ta hãy tự mình nhìn lại tâm mình gọi là phản quang tự kỷ để xem xét rà lại tâm ta đã có tâm Phật, tức là tâm thanh tịnh trong sáng thật sự chưa. Nếu đã có Phật trong tâm, thì nhất định chúng ta thấy Phật hiện hữu ngay trong tâm chúng ta. Thấy Phật trong tâm không giống như thấy Phật trên bàn khi mình chấp tay đưa mắt nhìn và ngưỡng vọng lên sau đó để lạy.

Thấy Phật trong tâm là tâm, ta luôn luôn thanh tịnh, tỉnh thức và vô ngã một cách bình đẳng không hạn định, không hẹn ước thời gian và không gian, lúc nào tâm ta cũng hằng chuyển trên dòng tâm vô ngã gọi là tâm bình thị đạo. Thị ở đây có nghĩa là thấy, đạo là chơn lý, lẽ phải.

Khi tâm ta được thanh tịnh vô ngã một cách thường xuyên, không bị cuốn hút vào biển sắc là lúc tâm ta có trí tuệ Phật, từ đó ta thấy được đạo gọi là liễu đạo. Khi được liễu đạo, thì đạo hiện ra sờ sờ trước mắt ở mọi bản thể vạn hữu và con người chung quanh ta và kể cả ở trong bài học Phật pháp không đâu xa.

Khi tâm ta được đạo rồi, đồng thời thân tâm ta liền tự động hành đạo một cách tinh tấn, tự tại, an nhiên, hanh thông, dù nơi chốn hành đạo là ở xã hội thế gian đầy biển sắc trên vận hành mưu sinh hay Phật sự tại chốn thiền môn có nhiều nhân tâm khác nhau, nhưng Phật đạo mà ta đang hành vẫn hiện hữu trong tâm ta một cách vững chắc. Nếu không nói đây là thời điểm tâm ta được giác ngộ chơn lý vô ngã, tánh không, đó là con đường giải thoát đích thực rõ ràng, không còn mơ hồ, không nghi ngờ gì nữa.

Thấy đạo, hành đạo, và đạt đạo do năm thức bên ngoài là mắt, tai, mũi, miệng và thân tương quan mật thiết với tâm bên trong.
Thấy đạo, hành đạo, đạt đạo ở mắt. Ví dụ mắt ta nhìn vào bản thân một người khác, tâm ta quán niệm về đạo lý nhân duyên, ta thấy ngay bản thân người đó sở dĩ được có thân là do tinh khí cha mẹ hòa hợp lại và thức A Lại Da được thác sinh vào đó mà có thân. Sau khi được sinh ra là nhờ sữa mẹ, không khí, ánh sáng, quần áo, hơi ấm, nước uống, thức ăn và sự chăm sóc của mẹ cha, cũng như nhiều điều kiện khác nữa giúp vào bản thân người đó được sống suốt cả cuộc đời, vân vân… Nhưng không thể tồn tại mãi được, phải bị già, rồi chết. Qua giờ phút quán niệm đó ta đã thấy được đạo lý nhân duyên giả hợp tạo thành bản thể sự vật và con người. Ta đã thấy được đạo lý vô ngã, tức là con người và sự vật trên đời không thể tự nó có hình tướng. Sau khi có hình tướng nó bị tan rả. Từ chỗ này ta thấy được đạo lý vô thường về sinh và diệt, trong đó có bản thân ta. Mà hễ có sinh có diệt là có bị luân hồi.

Thấy rõ những đạo lý đó rồi, chính là lúc Phật tánh trong tâm ta hiện hữu và vươn lên là thời điểm thấy đạo và hành đạo song song với nhau một cách hanh thông tự nhiên, không còn do dự, không còn khái niệm, phân tích các đối tượng mà mắt tai thấy nghe nữa. Tai nghe, mắt thấy hình tướng âm thanh mà tâm ta vẫn không có khái niệm, phân tích gì nữa về âm thanh, hình tướng của các đối tượng. Tâm thức ta an trú vào yên lặng, không thấy bị lay động như vậy gọi là thấy như thật. Tức là tâm không còn khởi lên ý niệm thắc mắc về hình tướng của vô số vạn hữu tại sao to, lớn, ngắn, dài, xanh, đỏ, cao, rộng, nóng, lạnh, có nước, không nước, khô, lạnh, nóng bức, v.v… Bởi vì bản thể của vạn hữu vốn do các duyên giả hợp mà có như vậy rồi, cũng như bản thể vạn hữu bị tan rả là do các duyên tan rã trở về không. Đó là thấy hình tướng của vạn hữu. Bây giờ mắt ta nhìn vào thân tướng con người. Tâm thức ta cũng an trú vào yên lặng, không bị lay động, dù cho thân tướng con người, mà mắt ta nhìn đến là người nam, người nữ, già, trẻ, có thân tướng béo, mập, cao, lùn, có nét đẹp, nét xấu, tàn tật, tính tình khiêm tốn, ăn nói lễ độ, nhã nhặn hay tính tình lăng xăng, ăn nói thiếu lễ độ, không nhã nhặn, bộp chạt, v.v…

Tâm ta yên lặng, không có ý niệm ghét, thương, thắc mắc, không nói thầm ông đó, bà tê như thế đó, như thế kia. Không dán nhãn hiệu ông đó bà tê là người thế này, thế kia và cũng không định danh bà nọ, ông tê về đời sống, chức vụ của họ ở quá khứ, trong hiện tại như thế này, như thế nọ. Để rồi khởi lên ý niệm ghét, thương, xu nịnh, tâng bốc, hay nguyền rủa, v.v… Tâm thức và năm giác quan cùng yên lặng trước mọi người như vậy là do đã thấy được quả báo thiện ác của từng người vốn đã như vậy rồi. Cho nên không sanh tâm thắc mắc, không xu nịnh, không ghét thương, phải nên im lặng. Tâm thức và năm giác quan cùng im lặng. Sự im lặng này gọi là im lặng như chánh pháp. Sự im lặng như chánh pháp này được cắt nghĩa là “không nói lỗi người”. Bởi vì quả báo thiện ác của họ như vậy nên chi bản chất của họ như vậy rồi, nói làm chi nữa.

Tâm và năm giác quan của ta không bị vọng động trước các đối tượng có những sắc thái khác nhau, gọi chung là lục trần khi thân tâm ta giao tiếp. Chính là lúc tâm có Phật thật, là con người Phật tử thật, đúng như lời đức Phật đã nói: “Ta sanh ra giữa đời, lớn lên trong đời, ta chinh phục đời, không bị đời làm ô nhiễm, ta là Phật”. Như vậy quý vị Phật tử nào tâm không bị đời làm ô nhiễm một cách thường hằng, vị ấy là Phật.

Qua lời giảng luận khế lý Tâm Phật thật vừa rồi, quý vị Phật tử chúng ta hãy xét lại tâm mình đã được có tâm Phật thật như vậy chưa? Nếu có, xin khẳng định đó là năng lực đưa thức A Lại Da của quý vị tuần tự đi lên từng nấc thang trong sáng thánh thiện, để rồi cuối cùng lên ngôi vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là con đường không còn sinh, không còn tử, đó là Phật. Ngược lại, còn bị sinh, bị tử, còn luân hồi là do cái Tâm Thật của Lục đạo chúng sinh. Tâm thật của lục đạo chúng sinh là gì? Đó là tâm thật của loài Trời, loài Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh.

Là Phật tử học và tu tập Phật pháp để tìm cầu con đường giải thoát, giữa hai cái tâm thật: Phật và Lục đạo, ta chọn cái tâm thật nào? Chắc chắn, quý vị sẽ chọn cái tâm Phật thật. Cả hai cái tâm thật: Phật và Lục đạo đều có trong thức A Lại Da của quý vị. Vì thế cho nên đức Phật mới chỉ dạy cho ta những pháp môn tu tập mà gạn lọc, tẩy trừ những tính chất ô nhiễm lục đạo, để cho cái Phật tánh của ta được vươn lên. Từ đó ta có tâm Phật thật, là đà sống thánh thiện.
Đã là con người đều có cái đà sống. Đà sống đó là Tâm Ý. Bản thân không có tâm ý hiện hữu, chỉ là một cục thịt. Cho nên tâm ý là chủ nhân ông chỉ đạo cho thân nói và tạo tác các hành động thiện, ác. Từ đó ta thấy đà sống có đạo đức, nhân cách, thánh thiện và đà sống vô đạo đức, bất nhân, bất nghĩa, tàn ác, bạo ngược…, do những tính chất lục đạo và 6 thứ phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến bao phủ Phật tánh.

Sáu tính chất phiền não nói trên là cái lực tổng hợp dẫn chúng sinh đi vào 6 đường luân hồi, sinh tử, nên mới gọi chúng là căn bản phiền não. Sáu căn bản phiền não luôn luôn tương dung nhau, tương nhiếp, nối kết nhau thành cặp đôi, ba, bốn trở lên, chứ không bao giờ đơn độc đúng theo quy luật Hoa Nghiêm: “Một trong tất cả – Tất cả trong một”. Vì vậy mỗi tính chất căn bản phiền não đó, nó còn là mẹ đẻ ra những căn bản phiền não con: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Những căn bản phiền não con này lại sinh sản ra những đứa con vô minh: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến. Đó là 5 cái thấy sai lạc. Và những đứa cháu triền phược: vô tàm (không biết xấu hổ), vô quý (không biết hổ thẹn), tật (đố kỵ), san (keo kiệt, ích kỷ), hối (hối tiếc) miên (u mê tăm tối), trạo cử (không an tĩnh), hôn trầm (tâm ý nặng nề, trì trệ), vân vân…

Những tính chất phiền não, vô minh, triền phược nói trên được biểu thị cho thân mạng đích thật của chúng sinh nói chung, loài người nói riêng, được hiển lộ ra lời nói và hành động đối đãi. Hành động và ngôn ngữ đối đãi của con người thực tại hôm nay mang những tính chất ô nhiễm trên chính là quả báo nghiệp bị thác sinh vào 6 đường sinh tử dau khi thân cũ chết đi. Do vậy mà đức Phật đã dạy cho hàng Phật tử chúng ta phải quyết tâm diệt trừ hết 6 căn bản phiền não, mới có thể được quả giải thoát. Nói diệt hết, không có nghĩa là diệt một lần, mà là diệt từng thứ một căn bản. Khi một thứ căn bản phiền não được diệt, là dòng họ quyến thuộc ô trược, triền phược của nó đều bị diệt luôn, đúng theo quy luật “Thử vô cố bỉ vô” (cái này không, cái kia không). Ngược lại còn bị đọng lại trong tâm một căn bản phiền não, thì nó kéo theo sau nó cả bà con dòng họ vô minh, triền phược, đúng theo quy luật duyên khởi “thử hữu cố bỉ hữu” (cái này có, cái kia có), chính là năng lực cực mạnh dẫn thức A Lại Da bị thác sinh vào một trong 6 cõi luân hồi. Một trong 6 cõi luân hồi được thấy ngay ở bản thân con người thực tại hôm nay qua hành động và lời nói thật là Trời, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh trên vận hành sống và làm các việc đời, việc đạo giữa xã hội.


Lotus_Flower1-content


 Mùa Phật Đản PL 2554 – 2010

 Đức Hạnh


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn