Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển

09/06/201012:00 SA(Xem: 11280)
Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển


(Buddhism its essence and development)
Edward Conze - dịch giả Tùng Sơn

 
(Tiếp theo)

Chương Thứ Năm

Phật Giáo Đại Thừa và trường phái
Tân Trí Tuệ Đại Chúng Bộ

Vào giai đoạn lịch sử ban sơ của tăng đoàn, nguyên nhân đưa đến việc phân chia thành hệ phái phần lớn mang nặng tính chất địa lý. Phật giáo khởi nguồn từ nước Ma Yết Đà (Magadha), từ đó lan truyền sang phía tây rồi đi xuống miền nam. Vào khoảng 100 năm cho đến 200 năm sau khi Phật nhập niết bàn xảy ra tình trạng phân hóa giữa các tăng đoàn ở vùng phía đông và phía tây. Tình trạng này kéo dài cho đến thời vua A Dục tính chất bất đồng trong tăng đoàn càng thêm gay gắt đưa đến sự phân liệt lần đầu tiên. Trường phái Thượng Tọa Bộ tách ra khỏi trường phái Đại Chúng Bộ hay ngược lại. Thượng Tọa Bộ (Sthavira-vada)bao gồm những người bảo thủ, chủ trương duy trì giáo lý của những trưởng lão, trong khi đó Đại Chúng Bộ (Maha-sanghikas) thì dân chủ hơn, là đại tập hợp quần chúng bao gồm tín đồ tại gia và chúng tăng không câu nệ nhiều vào giới luật, cho thấy những điểm tương phản với tính chất cách biệt, quý phái của tập thể những A La Hán.

Thật ra không dễ dàng gì để thu thập những sự thực xẩy ra đã đưa đến tình trạng phân liệt trong tăng đoàn vào giai đoạn đó. Những trước tác của trường phái Đại Chúng Bộ về vấn đề này hầu như không còn nữa. Trong khi đó những thuyết còn tồn tại ngày hôm nay đều mang tính chất ác ý và tự mãn của mỗi trường phái. Trong số những lập luận, có một dữ kiện có thể xem như xác thật nhất, việc này xảy ra vào thời vua A Dục, liên quan đến năm điểm trong giáo lý do nhà sư Đại Thiên (Mahadeva) (1) đưa ra. Năm điểm mà Đại Thiên nêu ra gây sự phẫn nộ trong thành phần phe đối lập. Những người này mô tả Đại Thiên như người con trai của một thương gia, có gian dâm với người mẹ, đầu độc giết cha, và sau đó giết chính người mẹ ruột và một số A La Hán. Sau đó cảm thấy hối hận về những hành động này ông ta xuất gia tự thụ phong là Tăng – sự kiện hết sức bất thường và ngoại lệ – rồi cố buộc năm điểm của ông ta vào tăng đoàn. Hai trong năm điều chủ đích hướng vào thành phần A La Hán, qui tội họ thiếu cả về đạo đức lẫn tri thức. Một trong hai điểm kết tội A La Hán vẫn còn xuất tinh ban đêm trong khi ngủ. có nghĩa những vị này vẫn chưa dứt đoạn tình dục, đó là yếu điểm để cho Ma vương Mara xúi giục, dụ dỗ và gạ gẫm. Ngoài cái việc tình dục vẫn còn, thêm một điểm nữa các A La Hán vẫn còn u mê. Vì họ chưa đạt tới mức thông suốt mọi sự, cho nên vẫn còn gì đó chướng ngại nơi tư tưởng của họ. Điểm chỉ trích thứ hai này rất quan trọng, trở thành cơ sở triển khai thành con người thông suốt toàn bích của Phật giáo đại thừa (Sẽ bàn thêm trong phần sắp tới). Năm điểm của Đại Thiên chỉ là cái cớ cho sự tách riêng thành lập trường phái Đại Chúng Bộ mà thôi. Mặc dù những người chống đối đưa ra lập luận chỉ trích giáo lý Đại Chúng Bộ đi nữa, trên mặt giáo lý không thấy có lý gì để bảo rằng giáo lý Đại Chúng Bộ là non nớt hơn những trường phái ra đời trước đó đã được trình bày trong chương trước, cho nên không cần phải nói thêm ở đây.

Đại Chúng Bộ đã trở thành điểm xuất phát, triển khai thành Phật giáo đại thừa, cho dù chưa tạo dựng một hệ thống lý luận, nhưng với phong thái tự do phóng khoáng tư tưởng đã gây ấn tượng không nhỏ. Nói chung về mọi mặt Đại Chúng Bộ cởi mở rộng rãi hơn phái đối nghịch, không nghiêm khắc trong việc giải thích giới luật, bớt cách biệt hơn đối với tín đồ tại gia, có cái nhìn cởi mở hơn về khả năng tâm linh của giới phụ nữ, cũng như đối với các vị tăng thiếu tài năng, và sẵn sàng chấp nhận những đoạn giáo lý thêm vào kinh điển về sau này như có giá trị chân thật đáng tin cậy. Ngoài những đặc điểm nêu trên, một đặc điểm nổi bật nhất là sự hình thành đầu tiên của một con người lý tưởng Bồ Tát trong tư tưởng Đại thừa với những đức tính cao quý, ngoài ra còn có một số điểm trong giáo lý Đại Chúng Bộ đã gây tầm ảnh hưởng hết sức quan trọng mang tính chất lịch sử. Ảnh hưởng đầu tiên có thể nói là tách rời Đức Phật có tính chất lịch sử ra khỏi truyền thống Phật giáo, và không còn xem việc phải theo sát với những lời dạy của Phật nữa là quan trọng nữa.

“Chỉ trong một pháp âm Đức Phật có thể tuyên giảng hết giáo lý của ngài. Chỉ trong một khoảnh khắc Ngài có thể hiểu tất cả các pháp. Thân tướng của Như Lai là vô hạn; năng lực của Như Lai, và tuổi thọ Như Lai là vô hạn; Phật không bao giờ mệt mỏi trong việc hóa độ chúng sinh và thức tỉnh trong họ niềm tín ngưỡng thuần khiết. Phật không bao giờ ngủ cũng như không bao giờ mơ. Phật luôn luôn ở trong thiền định.” (2) 
Những câu nói này không phù hợp với con người của Phật (Gautama) bằng xương bằng thịt đã sinh sống ở nước Ma Yết Đà (Magadha) bao nhiêu năm về trước. Bằng sự nhấn mạnh đến những đặc điểm siêu nhiên, siêu thế gian, khác biệt với tất cả những người khác của Phật, họ đã dẫn dắt tín đồ ra khỏi những hoàn cảnh ngẫu nhiên lịch sử trong sự giáng thế của Đức Phật. Cũng có một số người trong Đại Chúng Bộ đã đi xa hơn, chủ trương rằng Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ là hóa thân của Phật Siêu Thế Gian là đấng đã thuyết giảng giáo Pháp. Nếu bảo rằng chỉ có Đức Phật duy nhất xuất hiện vào năm 500 trước kỷ nguyên, thì Ngài chỉ có thể truyền giảng giáo pháp trong thời gian tại thế, và toàn bộ giáo lý của Ngài sẽ coi như hoàn tất ngay sau khi Phật nhập Niết Bàn. Tuy nhiên nếu cho là Đức Phật thật sự tồn tại trong mọi thời đại, không có lý do nào vị Phật đó không đưa ra phương tiện thích hợp để giảng dạy cho mỗi thời đại. Sự phát triển giáo lý cởi mở và phóng khoáng như vậy đã tạo chỗ đứng vững vàng, và những cải cách, dù không tìm được dấu tích trong những kinh điển, cũng có thể được biện minh như những khai thị mới trong nguyên lý chân thật về Phật thân.

Chú thích:
(1) Dựa theo Đại Vương Thống Sử (Mahavamsa) và Đảo Vương Thống Sử (Dipavamsa) của Nam Truyền Phật giáo thì những Tỳ Kheo xuất thân dòng họ Vaijjali đã đưa ra 10 điểm canh tân tạo thành nguyên nhân cho sự phân liệt. Nhưng theo “Dị bộ tông luân luận” và “Đại Tỳ Bà Xa Luận” của Bắc Truyền Phật giáo, nguyên nhân tạo sự phân liệt là do Đại Thiên đưa ra năm điểm về giáo lý.
(2) Trích từ “Dị Bộ Tông Luân Luận”, Đại Tạng Kinh quyển 49, trang 15 ). Tác phẩm này do Thế Hữu (Vasumitra) sáng tác, nhân vật thuộc phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ.


Tiểu Thừa và Đại Thừa

Từ Đại Chúng Bộ đã triển khai thành hệ thống giáo lý mới. Thoạt đầu người theo Đại Chúng Bộ gọi tư tưởng này là Bồ Tát Thừa (Bodhisattva- yana), sau đó gọi là Đại Thừa (Maha-yana), có nghĩa bánh xe lớn. Ngược lại người ta gọi những người thuộc phái Cổ Trí Tuệ là Tiểu Thừa (Hina-yana), có nghĩa bánh xe nhỏ, thấp hơn và kém hơn. Đại Thừa được hiểu là lớn do nhiều lý do – lý do chính gồm có tinh thần từ bi bao trùm đến tất cả mọi sự sống, về sự giảng dạy tánh Không, và bởi vì mục tiêu vĩ đại đưa ra không gì khác hơn là thành Phật.
Theo nghĩa căn bản, Tiểu thừa là cách gọi mang tính chất sỉ nhục đối với phía được gọi, vì thế người Phật giáo Đại thừa rất ít khi dùng nó. Họ thường gọi người đối lập là Thanh Văn và Duyên Giác (1). Ý nghĩa chính lúc ban đầu về tiểu thừa hiện nay đã phai lạt dần, và người ta dùng từ Tiểu Thừa trong mục đích mô tả về lịch sử nghệ thuật, giống như những từ nói về phong cách hoa mỹ (baroque), cầu kỳ (rococo) trong nghệ thuật trang trí, kiến trúc, mà trước kia được dùng bày tỏ thái độ phê phán vấn đề nghệ thuật.
 
Thật ra không có con số rõ ràng về tỷ lệ giữa người tiểu thừa và đại thừa theo từng thời đại ở Ấn-Độ. Hình như người theo đại thừa nhiều hơn người theo tiểu thừa chỉ bắt đầu vào khoảng từ năm 800 trở về sau, và cũng là lúc Phật giáo bắt đầu suy thoái dần tại Ấn-Độ. Khi tín ngưỡng Phật giáo truyền sang Trung-Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng cũng là lúc đại thừa đã hầu như xóa sạch tiểu thừa mà chỉ còn lại vài nước như Tích Lan, Miến Điện, Cam-Bốt và Thái Lan.
Người đại thừa và người tiểu thừa đã sống chung với nhau trong cùng một chùa, tu viện, trong khoảng thời gian dài, đã cùng tuân theo một giới luật. Theo như bản tường trình của tăng Nghĩa Tịnh (vào khoảng năm 700) như sau:
“Tín đồ đại thừa và tiểu thừa cả hai đều tu tập theo cùng giới luật, chấp nhận năm giới cấm, tin vào Tứ Diệu Đế. Những người tôn kính Bồ Tát và đọc kinh điển đại thừa được gọi là người đại thừa; Còn những người không làm như vậy gọi là người tiểu thừa.”(2)

Vậy thì làm thế nào quy định mối tương quan khác biệt giữa người đại thừa và người tiểu thừa? Một cách đơn giản là những tác phẩm của người tiểu thừa viết không đề cập đến những người cải cách đại thừa. Nếu có đề cập đến, cũng rất hiếm, một vài tác giả đại thừa tham gia trong những cuộc luận tranh về giáo lý. Dù vậy, người tiểu thừa đã ngấm ngầm thừa nhận và du nhập một số lớn giáo lý đại thừa.

Mặt khác, về phía đại thừa dường như không bao giờ đi đến một kết luận cụ thể về mối tương quan với tiểu thừa. Trong những thế kỷ đầu tiên cho đến khoảng năm 400 sau kỷ nguyên, chúng ta có thể thấy từ Thanh Văn và Duyên Giác xuất hiện rất nhiều trên những văn bản. Sau khoảng thời gian này Thanh Văn, Duyên Giác ít còn nghe thấy nữa, và đại thừa càng ngày càng độc lập trong vấn đề giáo lý cũng như cung cách dùng từ, quan niệm về Phật. Khi gặp phải vấn đề so sánh giữa hai thừa, người đại thừa bị đặt và thúc đẩy giữa hai mâu thuẫn mang tính chất cảm xúc. Một là thiên kiến có tính
chất trường phái, kèm theo đó mối quan tâm hợp thức hóa vai trò của họ, với ước vọng siêu việt hơn phái khác. Tinh thần này đối kháng lại với tư tưởng khoan dung, từ bi và khiêm tốn. Do mâu thuẫn này đưa đến những cách biểu hiện ngôn từ đối chọi nhau, mà trên thực tế không bao giờ có một phương cách giải quyết ổn thỏa.

Có lúc bảo Phật thừa là loại bỏ hết mọi thừa, lúc khác lại nói Phật thừa là một với các thừa. Đôi khi người tiểu thừa bị đối xử cực kỳ thậm tệ, bị đe dọa xuống địa ngục, xem như “đồ rơm rạ”, hay tệ hơn nữa. Lúc khác, lại có thái độ cởi mở hơn, cho là “nếu chúng ta tỏ thái độ khinh bỉ những người đi theo con đường Thanh văn, Duyên giác, và nói “chúng ta siêu việt hơn họ” là không còn tin vào Như Lai nữa.”(3)

Theo trường phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ cho rằng có ba loại chủng tính (gotta), hay còn gọi là những con đường đến giải thoát: Thứ nhất là Thanh Văn, là những người đạt đến Niết Bàn qua quả vị A La Hán. Thứ hai là Duyên Giác, là “người tự chính mình giác ngộ, là người độc giác, đạt đến chánh giác, giác ngộ viên mãn, nhưng không nói chân lý cho thế gian cho đến khi chết”. Sau cùng là Vô Thượng Phật, là người đạt đến chánh giác, giác ngộ viên mãn, đi giảng truyền pháp đến thế gian. Mỗi người tùy theo nghiệp quả trong quá khứ, tính tình, khí chất mà thuộc vào một trong ba chủng tính nêu trên, người đó tự lựa chọn con đường phù hợp với chính bản thân. Có người đại thừa thỏa thuận ngừng vấn đề nêu trên ở đó và không thảo luận thêm. Có người đại thừa khác chủ trương rằng chỉ có một con dường độc nhất đi đến giải thoát – đó là Phật thừa, hay đại thừa, còn những thừa khác còn ở rất xa để đạt đến giải thoát. Trong kinh Pháp Hoa có nói như sau:

“Tất cả Thanh Văn tưởng rằng họ đã đạt đến Niết Bàn. Nhưng bậc trí giả chỉ dẫn cho họ hiểu rằng:’Đây mới chỉ là nơi tạm nghỉ nhất thời, không phải nơi an nghỉ cuối cùng. Đây chỉ là phương tiện của Phật khi giảng về Thanh văn thừa. Ngoài Phật thừa không thể có được Niết Bàn chân thật. Hãy nỗ lực để đạt đến nó.” (4)

Có người khuyến cáo những A La hán rằng, trái ngược với niềm tin của họ, là họ đã không hoàn tất những gì phải làm, đã không hoàn thành sứ mạng. Họ phải nỗ lực cho đến khi đạt được tri kiến Phật.
Tình trạng ngập ngừng của người đại thừa liên quan đến vấn đề so sánh giá trị giữa hai thừa cho thấy không thể đem cảm tính siêu việt có tính chất trường phái vào trong giáo lý căn bản của Phật giáo.
 
Chú Thích:
(1) Thanh Văn (Sravaka) có nghĩa là người nghe lời Phật dạy, nỗ lực tu hành và đắc đạo, còn gọi là Thanh Văn Thừa; Duyên Giác (Pratyekabuddha) có nghĩa là người do nhân duyên với đạo pháp, rồi tự tu tập mà ngộ đạo, còn gọi là Duyên Giác Thừa.
(2) Trích từ “Nam Hải Kỳ Quy Nội Pháp Truyện” quyển thứ nhất, Đại Tạng Kinh quyển thứ 54, trang 250.
(3) Trích từ “Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận” quyển thứ 7, Đại Tạng Kinh quyển 32, trang 95.
(4) Trích từ kinh Pháp Hoa, quyển thứ ba phẩm Dược Thảo Dụ, Đại Tạng Kinh quyển thứ 9, trang 20.

Triển Khai Kinh Điển

Vào khoảng giữa năm 100 trước kỷ nguyên và năm 200 sau kỷ nguyên, số lượng lớn kinh điển bộc phát xuất hiện. Nếu ai muốn nắm vững tinh thần đại thừa, sẽ tìm thấy sức sống mãnh liệt biểu hiện trong kinh Pháp Hoa và kinh Duy Ma Cật, cả hai bộ kinh này đều đã được dịch sang Anh ngữ và nhiều ngôn ngữ khác. Điểm cốt yếu của giáo lý mới là đưa ra số lượng lớn kinh điển để giải quyết vấn đề Trí Tuệ Viên Mãn. Tiếng Phạn gọi là Pra-JNA-param-ita, nói một cách nôm na là đạt đến bờ bên kia của trí tuệ , và cũng có thể nói là Trí Tuệ Siêu Việt. Người Phật giáo luôn luôn ở mọi thời đại xem thế gian sinh tử luân hồi đầy khổ ải như dòng sông chạy cuồn cuộn. Ở bờ bên này chúng ta phạm tội lỗi, dằn vặt bởi những bất an, khổ não. Ở bờ bên kia là nơi vượt qua tất cả là thiên đường, Niết bàn, là nơi mọi sự xấu ác với bản ngã riêng biệt không còn nữa. Những tác phẩm viết về Bát Nhã Ba La Mật Đa thì rất trừu tượng, và khó hiểu. Giáo lý nguyên thủy Phật giáo phát sinh từ vùng phía bắc Ấn-Độ, nằm ở giữa Nepal và sông Ganges. Trong khi đó tư tưởng Bát Nhã Ba La Mật Đa phát sinh từ vùng đông nam Ấn-Độ, thuộc Deccan nằm ở giữa dòng sông Godavari và dòng sông Kistna, gần khu vực Amaravati và Nagarjunikonda.

Giáo lý kinh điển đại thừa, đặc biệt giáo lý Bát Nhã được triển khai theo một hình thức có tính cách hệ thống và triết lý bởi trường phái Trung Quán (Madhyamikas). Madhyama có nghĩa là giữa, và Madhyamikas là những người đi theo con đường ở giữa, có nghĩa ở giữa khẳng định và phủ định. Trường phái Trung Quán do Long Thụ và Thánh Đề Bà (1) sáng lập vào khoảng năm 150 sau kỷ nguyên. Long Thụ là một nhà biện chứng sâu sắc tài giỏi nhất trong mọi thời đại, xuất thân từ gia đình theo đạo Bà La Môn thuộc vùng Berar nằm miền nam Ấn-Độ, sau đó lên Nagarjunikonda gần vùng Amaravati, ở miền bắc Ấn-Độ sinh sống và hoạt động ở đây. Có truyền thuyết để giải thích về tên Nagarjuna, do bởi Long Thụ sinh ra ở dưới gốc cây Arjuna, còn Nagas có nghĩa là rồng hay vua của các loài rắn, đã truyền thụ cho Long Thụ bí quyết các thánh điển nằm ở Long Cung dưới đáy biển.(2) Tư tưởng của Long Thụ được gọi là thuyết không (Sunya-vada). Long Thụ đã bổ túc thêm vào cơ cấu lý luận phức tạp, tư tưởng đã được trình bày chi tiết ở những bộ kinh về trí tuệ viên mãn và chính là nơi Long Thụ đã được cứu thoát từ nơi rồng trú ngụ dưới hạ giới. Cũng có câu chuyện khác kể rằng Phật Thích Ca Mâu Ni dạy cho mọi người giáo lý Thanh Văn, cùng một lúc giảng dạy cùng một giáo lý nhưng thâm sâu hơn ở cõi trời, giáo lý này được gìn giữ bởi rồng, sau đó được Long Thụ mang xuống thế gian. (3)

Trường phái Trung Quán phát triển mạnh ở Ấn-Độ trong suốt gần 800 năm, cho đến khoảng năm 450 mới bắt đầu phân liệt thành hai hệ phái: Một là hệ phái Prasangikas, giải thích tư tưởng Long Thụ như loại chủ nghĩa hoài nghi đến tất cả mọi thứ, và cho rằng những cuộc luận tranh về giáo lý có mục đích riêng biệt là đả phá ý kiến người khác nhiều hơn. Mặt khác, hệ phái thứ hai là Svatantrikas chủ trương những cuộc luận tranh cũng có thể đem lại kết quả tích cực. Theo cùng với vận mạng Phật giáo, trường phái Trung Quán đã biến mất khỏi Ấn Độ vào khoảng sau năm 1000. Nhưng tư tưởng cốt yếu của trường phái Trung Quán vẫn còn tiếp tục tồn tại ở Ấn-Độ cho đến ngày hôm nay dưới dạng hệ tư tưởng triết học Vệ Đà(Vedanta) của đạo Hindu, và do những người sáng lập Gaudapada (4) và Sankara (5) đem vào.

Công việc phiên dịch kinh Bát Nhã đã gây ảnh hưởng sâu rộng sang đến Trung Hoa từ năm 180 sau kỷ nguyên trở về sau này. Trường phái Trung Quán tồn tại trong vài thế kỷ dưới tên là Tam Luận Tông (San Loen T’sung) (6) từ năm 400 hoặc năm 600 cho đến năm 900 ở Trung Hoa. Năm 625 Tam Luận Tông được truyền sang Nhật Bản được gọi là Tam Luận (Sanron) (7), nhưng trường phái này nay không còn nữa. Cũng để thích nghi, phù hợp với nhân sinh quan của người Trung Hoa và người Nhật Bản, giáo lý này vẫn tiếp tục tồn tại ở Thiền tông.
 
Chú thích:

(1) Thánh Đề Bà (Aryadeva 170-270) đệ tử của Long Thụ, cũng được xem như vị tổ của trường phái Trung Quán, viết những tác phẩm như “Bách Luận”, “Tứ Bách Luận”.
(2) Trích từ “Long Thụ Bồ Tát truyện”, Đại Tạng kinh quyển thứ 50, trang 184.
(3) Câu chuyện này trích từ “Phụ pháp tạng bồ tát truyện” quyển thứ 5, Đại tạng kinh quyển thứ 50, trang 317.
(4) Gaudapada (640-690) có để lại tác phẩm tựa Mandukyakarika còn có tên là “Thánh Truyền Thư”, nội dung chịu ảnh hưởng sâu sắc Phật giáo, bao gồm Trung Quán và Duy Thức học.
(5) Sankara (700-750) viết quyển Brahmasutrabhasya, và vài tác phẩm khác chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo đại thừa, với lý luận bất nhị.
(6) Tam Luận Tông là tông phái thành hình trên hệ tư tưởng tam luận gồm có: “Trung luận” “Thập nhị môn luận” của Long Thụ, và “Bách luận” của Thánh Đề Bà”, do Cưu Ma La Thập mang vào Trung Hoa.
(7) Tam Luận Tông truyền vào Nhật Bản qua ba hệ phái khác nhau, trong quyển sách này tác giả nói về hệ phái do tăng Tuệ Quán mang đến nhật vào thời Thôi Cổ Thiên Hoàng (625).

(Còn tiếp)
 
Edward Conze - dịch giả Tùng Sơn
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn